Sau đêm trực đèn, Duy ngủ muộn hơn mọi ngày. Mỗi khi nhắm mắt, anh lại thấy ngón tay lệch của cha trên cái cần tối màu. Bách tới cửa hai lần rồi thôi gọi. Tới lúc tỉnh, anh đã lỡ buổi nước sáng định kiểm ống, phải đợi hôm khác. Anh ngồi bên bát cháo, giận mình một lát rồi ăn, không chạy ra bến bù bằng một lượt vội.
Trong khoảng chờ, Tố giúp sửa đầu nghe để nước ít lọt vào hơn. Họ thử tiếng qua vách kho, mỗi người nói một câu khác nhau, ghi chữ nào mất. Duy định hỏi cha chuyện ba năm trước, nhưng khi viết ra giấy thì có tới một mặt đầy. Tố đọc, gạch những câu có thể đợi, để lại chuyện ông thở được không, cần giữ gì và có được bỏ tay không.
Miên đã trở xưởng. Em gửi một câu nhờ hỏi: cha có biết hai anh em đã đợi không. Duy gấp tờ ấy riêng, đặt vào túi trong để khỏi ướt.
Buổi gặp lại chỉ có Kha, Tố và anh. Hai dấu nước được giữ từ bờ. Duy luồn ống vào đúng phần đã thử, không mở rộng khe. Đầu trong được đặt cao hơn mặt nước theo khoảng khí kính đã thấy. Anh gọi tên mình, gọi hai lần, rồi im để nghe.
Tiếng đáp khàn và đứt, nhưng lần này thành chữ.
“Duy… con đấy à?”
Anh cúi sụp xuống, trán chạm vành ngoài. Trong những đêm tưởng tượng cha về, anh đã có bao lời hỏi và giận. Tới khi nghe ông gọi đúng tên, anh chỉ nói được vâng. Kha quay mặt nhìn nước; Tố giữ ống cho khỏi lệch, để anh có thêm một khoảng thở.
Cha hỏi Miên. Anh nói em đã nhìn thấy ông, đang học mài kính ở xưởng bờ Nội, hôm nay không về được. Phía trong im lâu tới mức anh hỏi cha có còn nghe không. Ông đáp còn, nhờ anh nói với em đừng bỏ buổi học.
Duy cầm đầu ống chặt hơn. Anh hỏi ông có bị người ta nhốt, có ai buộc ông giữ cần không. Câu trả lời tới từng đoạn, họ phải nhắc lại mấy lần mới đủ.
“Cha nhận… lúc chốt vỡ. Phải có người giữ. Dưới cửa còn người.”
Tố kéo tờ giấy tới, hỏi qua Duy cái cần đang ghì phần nào. Ông không biết gọi theo tên trên bản vẽ; ông nói khi thả, cánh phía trong lệch và nước dồn xuống bãi. Ông từng nhấc tay trong một lúc tưởng có thể kê vật thay, thấy cả vách rung nên giữ trở lại. Không phải cứ có sức đè một thanh gỗ là thay được ông.
“Ai bảo cha nhận?” Duy hỏi.
“Người dưới bãi kêu. Cha tưởng… vài hôm sửa được.”
Anh muốn hỏi sao không đặt hạn, nhưng nghe tiếng ông ngắt để lấy hơi, câu ấy mắc lại. Hồi tai nạn, ông cũng chưa biết sẽ mất lối lớn. Đá sập chặn sau lưng và phá chỗ nối đèn báo; từ trong chỉ còn giếng khí hẹp, hai lỗ nước uốn gấp. Người giữ phía trong không biết ngoài kia đã thôi tìm từ lúc nào.
Duy kể nhà vẫn còn hai anh em, ông Bách thường giúp việc lúc anh đi làm. Anh không kể hết những lúc cạn tiền hoặc Miên ốm trong ba năm. Ông hỏi riêng em có giận không. Duy lấy tờ giấy trong túi, đọc đúng câu em gửi, không đổi thành một lời an ủi.
Tiếng cha rất nhỏ. “Có. Cha có nghĩ. Nhưng cha không biết… nói thế nào ra ngoài.”
Anh nghe rõ phần cuối, chép lại cho Miên rồi hỏi ông sống bằng gì. Giếng khí còn thông, nước có chỗ lấy; cá nhỏ lọt vào hai lỗ, ông bắt bằng phần vải còn lại. Khí quanh cửa khiến thân thể chậm đi, cái đói và mệt tới khác trước, nhưng không biến mất. Tay đã khó cử động hơn. Duy quay nhìn tờ giấy Tố giữ, thấy cô đánh một vạch dưới việc tiếp tế.
“Cha biết đường đổi người không?”
“Không. Đừng tới chỗ cần.”
Câu ấy làm anh cứng người. Cha vội nói thêm mình vẫn đang giữ được, không bảo anh thôi tìm. Nhưng chính ông chưa biết cách rời vị trí mà bãi dưới vẫn an toàn. Duy nhìn phần ống nằm trên thuyền, lần đầu hiểu lời đừng kéo chốt không chỉ là tiếng cảnh báo mơ hồ truyền tới anh.
Tới dấu dừng, Tố gõ nhắc. Anh nói với cha phải thu ống, hẹn lượt thăm sau theo nước và ca đèn; không hứa ngày mai nếu chưa xếp được thuyền. Ông bảo nghe được, nhắc anh buộc dây cẩn thận. Lời dặn quá quen khiến Duy bật một tiếng cười khô rồi phải quay mặt đi.
Trên đường về, anh viết cho Miên: cha tự nhận ở lại, cha có nghĩ tới nhà, chưa biết đường đổi ca. Anh giữ nguyên cả ba điều dù chúng không làm tờ giấy dễ đọc hơn. Chỗ chữ nhòe, anh chờ khô rồi chép lại ở mép, không xé phần đầu để viết một bức thư chỉ còn tin mừng. Tới bến, anh nhờ người chuyển trước khi đò chạy, còn mình đi mua một gói thức ăn khô để hỏi cách đưa qua khe.