Sáng ngày thứ ba, Duy trả hai khung đèn cho người của Liên thuyền. Khách thử quai, xem kính rồi thanh toán phần còn lại, không nhắc chuyện sửa miếu. Duy cất tiền công, trừ khoản mua kính và tiền nhờ lấy hộp, thấy phần còn lại vừa đủ mua một sợi dây thay dây cứu hộ.
Anh mua dây ngay ở chợ bến. Đến trưa, anh cùng Bách đổi từng nút, không để chân đèn bị kéo xê. Cuộn cứu hộ lấy lại được anh giặt sạch, phơi trên hàng rào. Sợi gai đã sờn một đoạn vì cọ gỗ; Duy đánh dấu chỗ đó, định không dùng vào những lần lặn phải chịu lực lớn.
Kha ghé trước buổi chiều, thấy anh đang xem dây thì rủ khảo sát thêm đoạn ngoài phao. Sau hai lượt thử, họ đã biết ánh ở bến không chói nữa, nhưng phần đường ra chỗ gò vẫn chỉ dựa những dấu tạm. Mấy cây sậy đánh dấu đã nghiêng, có cây trôi mất.
Họ đi lúc còn sáng. Duy mang sào và thước dây, Kha đem thuyền không. Hai người dò mép rãnh, đo từ cọc cuối tới cây có rễ lồi, thay những cành sậy bằng cọc dễ nhận hơn. Mỗi chỗ Duy ghi một dấu trên mảnh ván, Kha lại đọc để chắc khi trời tối còn phân biệt được.
Bên ngoài rãnh có một khoảng nước trống. Không sậy, không cành trôi, cũng không thấy bọt. Duy dò sào xuống, thấy sâu hơn phía trong nhưng chưa quá hết cán. Anh không chọn đường qua đó, chỉ ghi lại mép rồi quay về tuyến cũ.
“Bỏ chỗ này à?” Kha hỏi.
“Chưa cần. Đi sát cọc dễ nhận hơn.”
Kha gật, chèo vòng. Anh đợi Duy đánh dấu xong mới thu sào, không để đầu thuyền xóa vệt đo. Nước ban chiều trông hiền hơn đêm, nhưng có những chỗ đáy đã khác lần họ qua cứu người; hai người phải đối từng cọc thay vì chỉ nhớ đường. Cả hai về bến ăn cơm nguội Bách để sẵn, chờ trời tối mới thử phần vừa đo. Người lái xin một lượt mới: đèn soi từ bến tới cọc đánh dấu gần gò, không chở khách, quay về trước khi dầu xuống vạch thấp. Duy nhận rõ, đưa tay kiểm miếng kính mượn và đế đèn.
Ánh chạy dọc hàng phao, xa hơn hai tối trước. Duy không còn mải nhìn nó, cứ chờ dấu Kha giơ ở từng đoạn. Đến cọc ngoài rãnh, người lái dừng khá lâu. Anh giơ sào một lần rồi hạ, ra hiệu có chỗ khó nhìn.
Duy hạ miếng chắn thêm. Phao vẫn rõ nhưng dấu đáp không đổi. Anh nhờ người giữ bờ báo Bách, rồi xuống chiếc thuyền con buộc sát cọc, nhìn từ mặt nước. Miếng kính có vết mờ, song vệt tối Kha chỉ nằm lệch khỏi góc ấy. Anh đổi chỗ ngồi, nó vẫn ở đó.
Kha trở về, rủ anh đi cùng tới gần. Họ không chở người khác. Duy mang đèn tay đã sửa kín bình bằng mối hàn mới, giữ nó tắt lúc ra để khỏi lẫn ánh. Đến cọc đánh dấu, anh mới đốt lửa thường, đưa thấp gần mạn.
Mặt nước quanh thuyền phản một quầng vàng vỡ. Xa hơn một chút, tại khoảng nước trống ban chiều, quầng sáng như hụt mất một mảng. Duy đổi góc, bóng thân thuyền lướt qua rồi đi, nhưng mảng ấy còn. Không phải cứ tối là hố: có thể đáy, dòng nước, hoặc thứ gì anh chưa nhìn ra. Anh chỉ biết chỗ đó khác những chỗ vừa dò.
Anh thò tay về phía cuộn dây cứu hộ rồi dừng. Vết xước bàn chân vẫn rát, dây còn ẩm, dưới nước chưa biết có ván hay lưới chìm. Anh đã có đủ chuyện phải làm trước khi xuống.
“Anh giữ thuyền, tôi thả sào thêm lần nữa.”
Duy dò dọc mép chứ không chọc giữa mảng tối. Ở một chỗ, đầu sào bị kéo chếch; anh buông bớt, để nó theo nước rồi thu về. Bùn bám ở đầu sào ít hơn ban chiều. Kha nhìn dấu nước trên cán, bảo không nên cho thuyền hàng đi sát đây khi chưa hiểu dòng.
Họ buộc một dấu vải lên cọc ngoài, đánh dấu khoảng cần tránh. Duy ghi vị trí theo hai cọc đã cố định, không viết “hang” hay “cửa” vì chưa thấy gì như thế. Anh muốn biết, nhưng không có lý do biến một vệt tối thành lời giải cho điều mình đang tìm.
Khi thuyền quay về, Duy kết lượt thử. Kha giúp kéo dây phao sát tuyến trong hơn, giữ người đi cách khoảng nước ấy. Bách nghe kể, hỏi họ có thấy gỗ hay đá không. Duy lắc đầu, đưa mảnh ván ghi số đo cho ông xem.
“Vậy cứ ghi chưa rõ,” Bách nói.
Duy ghi thêm hai chữ ấy cạnh dấu đánh trên ván. Miên về ngang bến đúng lúc anh bọc lại tấm kính mượn. Em hỏi mai anh trả ở nhà hay ở hiệu. Anh bảo sẽ mang tới hiệu trước giờ học, rồi nhìn ra cọc vải mới.
Ngoài kia, mặt nước lại phẳng như chưa từng có điều gì khác. Anh cất mảnh ván vào hộp đồ nghề, để lần sau có thứ đối lại, thay vì chỉ nhớ một khoảng tối trong đầu.