Qua một đêm gió, hàng phao nghiêng hẳn về phía bãi trong. Duy xuống xem từ sớm, thấy bùn đã phủ mất vết chân hôm trước. Anh dùng sào dò đúng chỗ thuyền thợ vừa qua, đầu sào chạm cứng sớm hơn một gang tay. Xa thêm chút nữa lại hụt sâu, như có ai xúc đi một dải đất dưới nước.
Kha tới, nhìn mảnh ván ghi số đo rồi đi cùng anh một vòng. Họ đặt thước từ cọc trên bờ, đo lại vị trí từng phao. Cọc không nhổ, dây vẫn buộc nguyên; phần thay đổi nằm ở đáy. Một doi bùn mới nhô lên chặn mép ngoài, còn nước ăn sâu vào phía trong đường đi cũ.
“Nếu giữ nguyên, lúc đầy hàng sẽ mắc,” Kha nói.
Hôm ấy có chuyến vật liệu đi ngang bãi, hai người thợ định tranh thủ sửa phao cuối để xong cả đợt. Họ đã nhờ Duy soi lượt từ cọc rẽ tới phao, rồi về bến trước khi nước cao. Duy nhận khi còn ở bờ, hẹn chỉ bắt đầu sau lần kiểm đường sáng nay. Bây giờ đường không còn giống số đo cũ, anh gọi họ chờ, chưa đưa thuyền ra.
Chủ hàng đi tới cùng mấy người khuân. Ông nhìn những cọc đã thay từ hôm trước, hỏi sao sửa mãi vẫn chưa cho qua. Duy đưa sào để ông thấy mức đáy đổi, nhưng ông chỉ hỏi phải chờ bao lâu.
“Chưa biết,” anh đáp. “Chúng tôi dò lại rồi mới nói.”
“Thế đèn cậu sáng để làm gì?”
Duy không có câu nào làm hàng đi nhanh hơn. Anh nhờ Kha báo thuyền chưa vào tuyến cứ dừng ngoài bến, rồi nói rõ lượt thợ hôm nay phải đổi sang đặt lại phao và đưa người về trên đường vừa kiểm. Hai người thợ bàn với nhau, đồng ý chờ khảo sát; họ cần về đủ người, không cần giữ đúng cái đường hôm qua.
Duy chưa dùng phép để dò một vùng mình không biết. Anh và Kha đi trước bằng thuyền không, sào chạm đáy từng quãng ngắn. Người trên bờ giữ thước, đọc mốc rồi ghi lên ván. Có lúc hai bên nghe khác số, họ phải kéo thuyền trở lại đo lần nữa. Duy gạch số sai ngay, không để nó lẫn với dấu cũ. Chỗ nào sào không chạm chắc, anh ghi riêng để lát thuyền nhẹ quay qua kiểm, thay vì cho người sau tự đoán độ sâu. Đến khoảng có dấu vải vì ánh hụt, họ vòng xa, không lấy lối đó làm đường tắt.
Nước chảy mạnh hơn ở mép doi bùn. Duy cắm sào thì đầu thuyền xoay, kéo vết xước chân tì vào ván đau nhói. Kha giữ mái chèo, bảo anh ngồi xuống. Họ đổi vị trí, để người quen lái chống dòng, còn Duy ghi độ sâu và đánh dấu chỗ phải tránh. Công việc chậm nhưng không cần hai người cùng cố làm một việc.
Gần trưa, họ tìm được dải nước đủ đi vòng qua doi. Nó dài hơn đường cũ, lại có một khúc cua phải giữ thuyền nhẹ. Kha không chịu nhận lời chở đầy hàng qua ngay; anh muốn thử thuyền vật liệu ít tải trước, ngày khác mới tính tiếp.
Duy về bến, giải thích đường mới cho hai thợ và hỏi lại lượt đã đổi: họ ra đặt phao theo dấu vừa đo, mang một phần cọc, rồi cùng về bậc; nếu gió mạnh lên thì dừng. Họ xác nhận, anh nhận lại phạm vi ấy, không để lời buổi sáng tự kéo sang một đường khác.
Đèn bến được kiểm đế, châm dầu. Trong bóng kho dài đổ xuống nước, ánh chỉ những đầu cọc vừa dò rõ hơn. Hai người thợ chở phao mới ra từng chiếc, buộc từ trong tới ngoài. Duy giữ một tuyến, Kha điều thuyền ở khúc cong. Không ai thử soi thêm bờ đối diện.
Một thợ đánh rơi cuộn dây ngắn. Anh ta định cúi qua mạn lấy, Kha giữ vai, dùng sào khều về. Chỉ mấy nhịp nước đã kéo dây về rãnh mới sâu hơn. Duy nhìn chỗ ấy, mừng vì đã đóng lối cũ từ đầu buổi; người chở hàng nặng khó xoay kịp như thuyền không.
Đến xế chiều, chiếc phao cuối đứng ở chỗ mới. Thợ thu dụng cụ, đếm lại người và cùng về. Duy chờ tất cả lên bậc, kết lượt, rồi dùng vải gạch dấu trên bản đường cũ treo ở hiên. Anh không vứt nó, mà ghi ngày cùng những đoạn đã sai để lần sau có cái so.
Chủ hàng quay lại, nghe nói chưa cho đi đầy tải thì nổi nóng thêm một lượt. Kha nhận nói chuyện tiền chậm, không để Duy dùng ánh sáng hứa thay độ sâu. Một phần hàng phải đợi tới sáng, một phần chuyển sang chuyến khác, công khuân vì thế tăng lên.
Cuối ngày, Duy đem cơm ra cho hai người thợ. Họ ngồi trên bậc khô, đùa chuyện cùng một bãi mà cứ như đổi nhà. Anh cười theo, chân vẫn đau và áo dính bùn. Ngoài nước, đường phao mới vòng xa hơn. Nó chưa đẹp mắt, nhưng người dựng nó đã về đủ để ngồi ăn, còn những chiếc thuyền đợi thì biết rõ ngày mai phải qua chỗ nào.