Hai người nhận học giữ đèn tới sau bữa trưa. Một người từng chèo chuyến ở Cồn Vạc, người kia sửa thúng trong xóm bãi. Họ không tới để nhận thần vị. Bách đặt lên bàn chai dầu, kéo cắt bấc và một chiếc chụp cũ, bảo trước hết phải biết đèn cháy xấu trông thế nào.
Duy ngồi sửa khung ở bên cạnh, thỉnh thoảng ngẩng lên. Ông già không nói dài. Ông để bấc quá cao, cho họ thấy khói bám lên kính; hạ thấp quá, lửa chụm thành đầu nhọn dễ tắt khi gió lọt. Người sửa thúng chỉnh lần đầu chưa đều, phải tháo chụp lau muội rồi thử lại.
Tiền công học lấy từ phần góp giữ đèn, chỉ tính hai buổi đã thống nhất. Họ còn có việc nhà và chuyến riêng. Người chèo nói tối ngày kia không có mặt được; Duy gạch ngay khỏi lịch, không để Bách đợi người ấy rồi mất cả buổi.
Chiếc đèn bến không được đem vào nhà tháo thử. Bách dạy bằng đèn thường trước, còn chỗ chân neo, đường dây và kính đang dùng phải giữ đúng vị trí. Duy chỉ những dấu mình đã khắc quanh đế. Nếu có dấu lệch, người giữ dầu gọi anh, không lấy búa đóng xuống cho chặt như cọc phơi lưới.
Người chèo hỏi nếu Duy xuống nước, họ cứ đứng ở đây thì ánh có theo phao không. Anh đã nghĩ tới câu đó từ khi Miên đi. Nếu chỉ cần một người ở cạnh, anh có thể nhận thêm công ban ngày, thậm chí tranh lúc nước thấp đi hỏi về cánh đèn.
“Tối nay thử,” Duy nói. “Không chở khách.”
Anh sang gặp Kha, hẹn một lượt riêng trước ca thường. Kha vừa nghe đã hỏi lúc thử giao ai sẽ giữ an toàn. Duy hẹn vẫn ở dưới hiên để theo dõi, chưa đi khỏi bến. Thuyền thử chỉ mang người lái và một bó cọc nhỏ, đi đoạn đã dò; nếu ánh mất dấu thì quay về bằng sào và đèn thường.
Chiều xuống, Bách kiểm dầu. Hai người học đứng hai phía, một người giữ chụp dự phòng, người kia cầm khăn khô. Kha nói rõ việc xin thử, Duy nhận cho một lượt bến tới cọc rẽ rồi trở lại, trong giới hạn vừa bàn. Anh thắp đèn, đợi vệt sáng bám đúng hàng phao rồi bảo hai người học thử nhận phần điều hành ấy. Bách đứng sát bên, còn anh chủ động ngừng tự dẫn, lùi ra hiên quan sát. Kha đã giữ thuyền gần bến, có sào và lửa thường để quay về nếu lần thử không được.
Hai người học làm đúng những gì vừa được chỉ: giữ bấc đều, chụp kín, nhìn hàng phao. Duy vẫn thấy ngọn lửa, nhưng cảnh báo anh vừa ngừng dẫn không có ai tiếp được. Ngoài nước, Kha giơ sào lên.
“Còn lửa,” anh ta gọi. “Nhưng không thấy đầu cọc chìm.”
Người sửa thúng vội cúi xem bấc. Bách giữ tay, bảo nó đang cháy đều. Duy nói mình tiếp tục phần dẫn trong lượt đang nhận, tự điều hành lại dòng khí qua neo. Anh vẫn đứng dưới hiên, chờ ánh bám đường rồi mới gọi Kha đi tiếp một đoạn ngắn. Tới cọc rẽ, người lái quay thuyền ngay, không lợi dụng lần thử để sang xem bờ xa.
Sau khi thuyền buộc, Duy kết lượt, trở lại cạnh đế kiểm chụp. Ngọn đèn vẫn sáng vàng trên bậc. Hai người học đứng đó, dầu và kính không có gì thiếu. Việc họ làm không sai; điều anh muốn giao chưa nằm trong những động tác vừa dạy.
Kha lên bờ, hỏi lúc Duy vắng có thông báo với khách thế nào. Người chèo học việc đáp cứ nói đèn còn sáng. Kha lắc đầu, lấy sào chỉ vết cọc chìm dưới mặt nước.
“Người ta nghe thế sẽ tưởng vẫn được báo chỗ kia.”
Duy nhờ Bách lấy ván, viết rõ ngoài giờ chỉ có đèn thường và người coi dầu, khách phải hỏi người lái về chuyến. Anh đọc cho hai người nghe, rồi hỏi lại họ sẽ nói thế nào khi có thuyền tới. Người sửa thúng kể bằng lời của mình, ngắn hơn tấm ván mà đủ ý. Người còn lại bổ sung phải báo nếu đã thấy cọc lệch, chứ không chờ Duy về mới nói.
Người chèo học việc ngắm tấm ván, hỏi nếu khách cứ khăng khăng muốn đi thì ai đứng ra cản. Kha bảo gọi người trực bến, đừng bỏ đèn chạy xuống giằng thuyền. Duy thêm một chỗ ghi tên người báo, để họ biết tối ấy tìm ai. Một việc nhỏ được chuyển khỏi tay anh, kèm theo cả người chịu nghe khi nó gặp khó.
Trước bữa tối, họ cùng làm lại một lượt châm dầu trong gió. Lần này người sửa thúng tự nhận ra khóa chụp chưa vào hết, gọi người kia giữ giúp để đóng. Bách để họ sửa, không chạm tay vào mọi thứ. Xong buổi, ông trả tiền học như đã hẹn, nhờ họ hôm sau tự tới đúng giờ.
Ca tối vẫn do Duy giữ tại neo. Một khách tới sớm nhìn hai người học rồi hỏi đèn đã có người thay chưa. Anh giải thích phần họ nhận, hỏi lại chuyến khách định đi, không nhận lời hộ người lái. Khách hơi thất vọng vì muốn rời bến muộn hơn, cuối cùng chọn đi sớm cùng chuyến đang chờ.
Lúc thu ca, Duy xếp chai dầu vào tay người sửa thúng. Anh nhờ lau kính thường và coi lửa trong khi mình ăn cơm, nói rõ không còn ai trên tuyến đã nhận dẫn. Bước qua hiên, anh ngoái lại. Ánh lửa vẫn ở đó, đủ cho người lên bậc thấy chỗ đặt chân. Đêm nay anh được ăn một bữa còn nóng; ngày mai muốn đi xa hơn, vẫn phải tự tìm giờ và người lái cho phần việc chưa giao được.