Sang những ngày đầu mùa khô, nền bãi hàng hết lầy. Duy ra giếng vào giờ người gánh nước thường tới, chỉ thấy một cái bình đặt chờ cạnh cột. Tay quay mới đứng yên, không có vết hỏng hay thanh chống nào báo phải nghỉ.
Khoản nhận từ hôm trước cũng thấp hơn. Mấy ngày đầu anh nghĩ đèn ngoài bến dùng ít, nhưng khi hỏi, các hàng vẫn mở như thường. Cuối cùng, anh mang sổ ghi giờ ra ngồi gần cổng, nhìn lối vào giếng thưa người hẳn đi.
Người gánh nước tới muộn, chỉ lấy một chuyến. Duy hỏi các nhà có đi vắng không. Ông đặt thùng xuống, chỉ về ngõ dưới.
“Lối bờ khô rồi. Từ dãy nhà bên ấy sang giếng kia gần hơn. Họ dọn lại mấy hôm nay.”
Duy biết giếng đó. Chính ngày bãi nghỉ kiểm kho, ông đã sang lấy nước ở đấy. Hồi ấy lối ngắn còn bùn, phải vòng ra đường xe. Nay nước rút, người ta đi thẳng được từ sau nhà, không cần qua bãi hàng.
“Giếng này kéo nhẹ hơn,” Duy nói.
“Nhẹ hơn thật. Nhưng mang hai thùng đi xa thì vẫn nặng.”
Ông nghiêng gàu đổ nước, dường như câu trả lời ấy đã đủ. Duy đứng bên cạnh, nhìn tay quay mình vừa đổi. Nó tốn nhiều vật liệu hơn, đã có người già tự kéo được. Anh không nghĩ chỉ ít lâu sau, chuyện đi bộ qua một lối bờ lại làm nó bớt người dùng.
Anh định qua các nhà nhắc rằng giếng còn tốt, công kiểm vẫn đúng hẹn. Có thể họ chưa biết điểm cầm đã đổi, hoặc nghĩ phần tiền góp phải trả tiếp mới được lấy. Anh lấy tờ ghi giá rồi sang ngõ dưới.
Đi được nửa đường, Duy gặp bà lão hôm trước xách chiếc giỏ đựng bình rỗng. Bà chào anh, rẽ vào lối vừa khô. Anh xin đi cùng. Lối ấy hẹp, nhưng từ nhà bà tới giếng chỉ qua vài bờ rào. Khi họ đến nơi, bà chưa phải đặt giỏ nghỉ lần nào.
Giếng bên này không có trục quay. Người ta kéo gàu nhỏ bằng dây, chỗ tựa dây là một thanh gỗ đã mòn thành rãnh. Một người trẻ kéo giúp bà lão, còn bà giữ bình và đỡ đoạn dây thừa. Nước được đổ xong trước lúc Duy kịp nghĩ lời nhắc về tay quay của mình.
Anh xin mang bình về cho bà, muốn biết đường về khi có nước khác lúc đi thế nào. Bà cười, để anh cầm một đoạn rồi đòi lại vì nhà đã tới. Nếu phải gánh từ bãi hàng, đến đây mới là nửa đường. Duy đứng ở cổng bà, nhận ra mình đang giữ tờ giá một món sửa không giải được quãng đường ấy.
Lúc quay lại giếng nhỏ, anh nhìn kỹ thanh gỗ tựa dây. Mép đã xơ, sợi dây cọ qua bị tước vài chỗ. Người đang kéo hỏi anh có phải thợ giếng bãi hàng không. Duy gật đầu, người ấy liền hỏi làm miếng tựa trơn hơn có đắt không.
Anh ngồi xuống đo. Một máng lót nhỏ đủ giảm cọ, phải bo mép để dây không cấn. Công việc làm nguội được, không cần dựng cả trục mới. Người dùng ở đây chưa có tiền góp nhiều; họ muốn giữ gàu nhỏ và nhờ nhau kéo, ít nhất qua mùa này.
“Làm được,” Duy nói. “Tôi tính vật liệu rồi báo, các vị đồng ý mới lấy tiền.”
Anh chưa hứa cái gì miễn phí. Tiền mua phần ấy lấy từ người đặt, công được trả khi dùng thử đạt.
Một người đã góp tiền ở giếng bãi hỏi có được trừ phần ấy vào món mới không. Duy lấy giấy ra đối cùng họ: phần kiểm đã làm, phần vật liệu dự phòng còn nằm ở bãi, anh không giữ số tiền có thể chuyển qua đây. Nếu các nhà muốn rút khoản chưa dùng, họ phải bàn với người đang giữ. Người ấy nghe xong bớt sốt ruột, nhận về tính lại phần mình; Duy chỉ ghi tên sau khi họ quay lại đồng ý giá, không tự chia thay.
Duy mang kích thước về, giao Khang sửa mặt gỗ trong lúc mình làm miếng lót. Anh dùng công lực chỉnh mặt lót, làm đều chỗ dây tỳ qua trước khi lắp. Cậu hỏi có phải từ nay dời hết việc sang giếng mới không.
“Không. Giếng bãi vẫn cần kiểm như đã nhận. Chỗ này là việc khác.”
Họ chia thời gian để không bỏ một trong hai. Hôm lắp, Duy trả lại đoạn dây sờn, nhắc phải thay; tiền miếng lót không bao gồm một sợi dây mới. Những nhà dùng góp mua riêng rồi thử múc dưới sự chứng kiến của anh. Miệng máng trơn, gàu lên đều, không cắt thêm xơ dây ở mép.
Qua mấy ngày sau khi lắp, dòng nhận nhích lên một ít, nhưng giếng cũ vẫn thưa. Duy không biết tách tất cả thành số riêng; anh chỉ thấy giữ một cái giếng tốt không làm người ta bỏ lối gần nhà hơn để quay lại. Hôm đủ lịch, anh vẫn mang dầu ra bãi kiểm. Nắp ổ sạch, chốt chắc, dưới đáy giếng còn nước.
Người coi kho hỏi có cần treo bảng gọi dân tới không. Duy nhìn con đường đã khô ngoài cổng, rồi lắc đầu.
“Cứ ghi giờ mở như cũ. Ai cần vẫn vào được.”
Anh đóng nắp ổ, cất phần dầu chưa dùng. Một chiếc bình được đặt xuống cạnh chân; người thợ trong kho vừa hết nước uống, đang đợi tới lượt. Duy nhường tay quay cho ông, không ngồi đếm thêm người đi qua nữa.