Sang tháng bảy, bộ nhịp thử đã mở hạ đều trong xưởng. Những đợt chờ hàng và sửa mẫu kéo dài qua nhiều buổi, Duy vẫn giữ việc dân dụng vừa sức giữa các lượt kiểm. Đến lúc đưa bộ bản lề xuống bãi ngâm, anh tưởng phần khó nhất của nó đã qua.
Khang ghi vị trí trước khi ngâm, để các món không lẫn với mẫu nguồn hai đã dũa và lô thử đã trả. Bộ đang dùng là mẫu Liên Xưởng họ mua từ đợt trước, đã qua thử khô; phần vỏ và cách che do xưởng Duy làm theo nhịp dự kiến.
Sau những lượt ngâm ở chỗ nước lẫn bùn, họ đem bộ ấy lên giá, rửa phần ngoài rồi thử. Dây kéo căng, đầu nhịp nhúc nhích và mắc lại. Khang dừng tay, nhìn sang Duy.
Anh đặt hai ngón vào đường dẫn khí. Chỉ cần tăng lực một chút có lẽ sẽ vượt được chỗ khựng. Ý nghĩ ấy đến nhanh vì họ đã mất quá nhiều buổi với món nhỏ này. Duy giữ tay ở đó một lát rồi rút ra, bảo tháo tải trước.
“Nếu ép qua được, mai người khác không ép nổi thì sao?”
Khang nới dây, kê nhịp vào điểm đỡ rồi cùng anh tháo. Phía ngoài trông sạch hơn lúc nhấc lên; bên trong khe che vẫn giữ một lớp cát mịn. Khi trục xoay, cát bị dồn vào góc hẹp, không có lối theo nước thoát ra.
Duy trải vải, đặt từng phần xuống theo thứ tự. Anh không đổ hết cát đi ngay, nhờ Khang chỉ chỗ còn bám và vẽ đường nước. Vật liệu không cong như lô nguồn hai, mặt lỗ vẫn đúng cỡ. Cách che họ làm đã đưa cát vào rồi giữ nó lại đúng chỗ chuyển động.
Khang đề nghị bịt kín thêm, nhưng ngay trên miếng che có vết nước lọt từ phía khác. Duy dùng chút nước đổ chậm, cho cậu nhìn dòng đi tới chỗ đọng thay vì chỗ họ muốn nó ra. Muốn kín hoàn toàn cần một kiểu ghép khác và phải kiểm lại việc bảo trì. Anh chưa chọn chỉ vì nghe dễ. Họ thử tách hướng nước khỏi mặt tỳ trước, chừa đường để rửa phần bùn đã vào. Khi cậu nhấc mảnh che lên lần nữa, mấy hạt cát rơi xuống vải, đúng dưới nơi lúc nãy bàn tay Duy đã định ép mạnh hơn.
Họ mở thử một khe thoát ở vỏ, tránh mặt chịu lực. Nước rửa cuốn ra được, nhịp quay nhẹ hơn, nhưng trong lần chỉnh tiếp, mép mẫu đã cắt nhiều lần bị sứt. Duy đặt nó ra ngoài nhóm dùng được. Không thể mang một món đã khoét thử nhiều lượt lên cầu chỉ vì nó từng là hợp kim tốt.
Khang tiếc tiền, hỏi có lấy phần lành làm lại được không. Duy nói có thể giữ để học đường cát, chưa tính làm đồ chịu tải. Một mẫu đã mất, còn bản thiết kế có thông tin thật; hai điều ấy phải ghi riêng, không lấy cái này xóa cái kia.
Muốn thử lại phải mua mẫu mới. Duy đem giấy giá cũ đến Liên Xưởng, hỏi rõ trước khi đặt. Hàm Vinh xem rồi đẩy trở lại.
“Đợt giữ giá này đã qua. Anh chưa đặt hàng, tôi đã giao phần dự trữ sang đơn khác.”
Ông đưa giá hiện tại cho mẫu lẻ và một gói mới nếu mua cùng nguồn. Duy không mặc cả bằng việc nói mình đã chờ thử quá lâu. Anh hỏi món đang có cùng vật liệu với mẫu trước không, xin dấu lô và điều kiện kiểm, rồi mang giá về người giữ tiền cầu.
Nhóm đồng ý lấy một phần tiền hàng nguồn hai đã hoàn để mua bộ mẫu thay, có ghi chi, chưa biến phần hoàn ấy thành toàn lô cầu. Giá mới cao hơn điều Duy từng hy vọng, nhưng còn trong khoản họ thực giữ. Anh trả tiền, nhận mẫu, giữ một phần nguyên làm đối và chỉ sửa vỏ theo khe thoát đã chọn.
Với bộ mới, Duy cho lặp lại các lượt ngâm bùn, rửa và mở hạ, đối kỹ chỗ cát từng mắc. Khang ghi lúc có thêm hạt cát ở khe. Họ tháo kiểm giữa các đợt; chỗ thoát mới cuốn được phần cát từng mắc, nhưng phải xem cả mép chịu lực sau nhiều lượt, không chỉ mừng vì nhịp vừa quay.
Người giữ tiền ghé, thấy một bộ sứt nằm trên vải, hỏi có phải Liên Xưởng phải đổi không. Duy cho ông xem vết họ đã cắt và đường che cũ, nói lỗi nằm trong cách lắp của mình. Bộ ấy không được trả như hàng nguyên có lỗi để lấy lại tiền.
Ông thở dài rồi nhận bảng chi mẫu thay. Duy lĩnh phần công thử đúng đợt, trả Khang riêng, không trừ khoản mua sai vào tiền cậu. Phần lời của xưởng ít đi, còn công phải làm vẫn chưa hết.
Tối, anh đặt mẫu sứt trên giá đồ kiểm hỏng, buộc nhãn rõ. Bộ mới còn dưới lịch theo dõi, chưa được gọi là đủ an toàn cho cầu. Trong ánh đèn xưởng, khe thoát nhỏ gần như khó nhìn; Duy biết sẽ phải chỉ nó cho người nhận việc bảo trì sau này, chứ không chỉ nhớ riêng trong đầu.