Tạ Nghiên về phòng trọ muộn, đặt hai tờ ghi tư thế cạnh bản hướng dẫn. Dưới ánh đèn, dấu gạch giả thuyết rút ngắn vẫn lộ những chữ ban đầu. Anh chép lại kết quả trước, không cạo mực cho trang giấy sạch hơn.
Sau đó, anh lấy bản thảo trong hòm ra. Khoảng lề cạnh chữ “đầy” rộng hơn những chỗ còn lại. Ở lần đối chiếu trước, anh chỉ tìm xem có mất chữ khi khắc bản hay không. Lần này, anh lần ngược đến những tờ sửa trước khi ký.
Giấy cũ bị hơi ẩm làm cong, lật đến đâu phải chặn đến đó. Nghiên nhận ra dấu bút của mình trong một móc ngoặc bên lề. Nó khoanh một đoạn chú giải, trên cùng có chữ bỏ. Anh đã viết chữ ấy bằng mực nhạt hơn phần văn bản chính.
Đoạn bị bỏ nhắc rằng mức đầy không tính bằng số nhịp giống nhau ở mọi người, người tập phải được xem phản ứng khi chuyển đoạn. Không phải một bí quyết đủ để chữa cho Túc. Nó thậm chí chưa nói rõ người hướng dẫn phải nhìn dấu nào. Nhưng bản in cuối đã không còn cả lời nhắc phải xem ấy.
Nghiên nhớ buổi sửa bản. Trang giấy không đủ chỗ giữ cả hình và chú thích; anh đã đề nghị chuyển các điều người mới nên biết sang phần nhập môn. Khi người phụ trách hỏi có ảnh hưởng đến bài rút gọn không, anh đáp rằng người học đã qua phần nền thì đều tự làm được.
Anh không nhớ mình đã kiểm câu trả lời đó trên ai.
Lúc ấy, anh từng vận những đoạn thấp nhờ ấn và theo người trông ca. Các lần chuyển đều có một cảm giác quen trong người, quen đến mức anh không tách nó ra thành điều kiện cần chỉ dẫn. Giờ nhìn sổ của Túc, anh chỉ biết cảm giác quen ấy không thể dùng làm câu trả lời thay cậu.
Nghiên đặt tờ chú giải cạnh bản có chữ ký. Chỗ bị bỏ vừa đúng khoảng lề anh đã nhìn qua. Anh không cần tìm người khắc để hỏi thêm; chữ bỏ là của anh, nét gạch dưới đề nghị rút cũng của anh.
Hôm sau, đến giờ thuê sân, anh mang cả hai bản tới. Túc đến đúng hẹn, thấy giấy trải trên bàn liền đứng lại.
“Có bài khác?”
“Bản trước khi rút. Ta đã bỏ đoạn này.”
Nghiên chỉ phần chú giải rồi đưa cậu đọc. Túc đọc chậm, đến câu xem phản ứng thì hỏi nghĩa là phải nhìn xem người ta đau hay chưa. Anh nói đó cũng là chỗ bản cũ chưa viết đủ; không thể lấy mấy chữ vừa tìm được làm chứng rằng đã biết cách sửa.
“Vậy bỏ làm gì?”
“Ta tưởng người mới đã được dạy ở phần trước.”
“Ta chỉ được phát tờ này.”
Nghiên gật đầu. Anh mở sổ thử, ghi nguyên văn phần bị bỏ, kèm việc chính mình đã bỏ và lý do khi ấy. Túc kéo ghế ngồi đối diện. Cậu nhìn anh viết hết, rồi chỉ vào chữ cho rằng.
“Ghi rõ là tiên sinh cho rằng. Ta chưa nói mình biết.”
Anh sửa câu, đưa lại cho cậu xem. Ở trang sau, anh thêm việc chưa kiểm được: cơ thể mình đã tự làm gì trong đoạn chuyển. Không có tên một nguyên lý nào ở đó. Anh mới tìm được điều mình bỏ qua khi viết, chưa tìm được thao tác có thể dạy người khác.
Túc lật về trang đầu, tìm dòng ghi cậu tự dừng.
“Cả chỗ này cũng để nguyên?”
“Để nguyên.”
“Sau này đổi bài, đừng chép thành ta đã làm được bài cũ.”
Nghiên lấy một tờ giấy nhỏ kẹp vào đầu sổ, ghi nơi bắt đầu bản đối chiếu mới. Túc đợi mực khô rồi tự gấp mép giấy ra ngoài. Lần sau mở sổ, cậu có thể tìm được trang ấy mà không cần hỏi anh.
Túc ngồi một lúc rồi trở về bến. Trước khi ra cổng, cậu hỏi có cần đem giấy về cho người ở bến đọc không. Nghiên bảo chưa phát bản để luyện, nhưng sổ ghi việc bỏ chú giải không giấu; ai cần đối chiếu có thể tới xem. Anh gấp bản in đã ký vào riêng, giữ nguyên mọi nét cũ.
Buổi ấy, Nghiên không dùng giờ sân để gọi Túc tập lại câu vừa tìm được. Anh ngồi kiểm những mốc trong bản thảo, ghi bản nào đã đi ra từ đâu. Trong tập có hồ sơ tai nạn của Tống Du, thứ giấy anh đã nhiều lần mở rồi lại cất.
Anh đọc lại phần mình từng xác nhận. Túc hụt ở chỗ chuyển không có nghĩa mọi tổn thương của Du đều đến từ cùng một bước. Đường khí của Du sau tai nạn cũng không thể xem chỉ qua mấy trang ghi lúc mới khám. Nghiên đặt cạnh hồ sơ một tờ giấy mới, ghi câu cần hỏi thay vì chép một nguyên nhân chắc chắn.
Sáng hôm sau, anh tới chỗ nhận giấy tờ liên quan vụ tai nạn, gửi lời hỏi thăm và xin Du cho biết khi nào thuận nhận câu hỏi. Anh mua một gói trà dưỡng còn niêm, trả một thẻ gồm cả phí chuyển qua người nhận hồ sơ. Phần tự do còn mười thẻ. Anh không ghi món quà vào khoản bồi thường.
Về phòng, Nghiên chèn tờ chú giải vào đúng vị trí cũ nhưng không đóng nó lẫn vào bản đã ký. Hai phiên bản phải nhìn ra được. Trên bàn, khoảng trắng của bản in vẫn trắng; sổ thử bên cạnh đã ghi ai làm nó thành như vậy.