Lần đầu Lâm Túc vắng, cậu nhờ người trả dây báo từ chiều. Dàn hàng đổi sang ca đêm, đến giờ hẹn cậu vẫn chưa được xuống. Tạ Nghiên cho Mộc tập bằng sức ở khoảng nền trống, giữ nguyên cuộn cáp quen trong vách. Lần thứ hai, người báo đến khi Mộc đã ngồi chờ bên ván.
Cậu nhìn chỗ treo dây, hỏi sao người không tới vẫn được giữ học cụ riêng.
“Tôi đến đúng giờ, lại phải dùng đoạn ngắn. Túc không tới thì cho tôi lấy cái ấy được không?”
Nghiên bảo có thể dùng nếu đúng việc đang học, nhưng cáp dài không giúp cậu tìm dấu đổi lực dễ hơn. Mộc cầm đầu dây đang dùng, làm trọn động tác vừa tập ở phía khó. Lần này cậu nhận được sức kéo đổi của anh, không vội chuyển chân theo mẫu cũ. Anh khen đúng chỗ ấy. Cậu vẫn nhìn về vách.
“Vậy tôi cần làm được gì nữa mới được dùng?”
Anh định đáp rằng không phải ai cũng cần cùng một thứ. Nhưng Mộc đã đứng đợi hai buổi mà vẫn thấy tên Túc ở giờ đẹp nhất. Cậu không chỉ hỏi về độ dài cáp.
Nghiên mở lịch cho cậu xem. Túc làm ca bến, có lúc chỉ đổi được giờ vào sát ngày. Mộc chỉ lên những ô của mình, nói cậu cũng đã bỏ một buổi xem người ta dựng dàn để đến đây; nếu cứ ai bận việc có tiền thì được giữ lượt, người đến đủ lại thành người dễ gạt sang bên.
Anh không còn nhìn tờ lịch như lúc tự chia nó nữa. Với anh, những ô trống là chỗ dành cho người phải kiếm sống. Với Mộc, chúng đang được giữ bằng một thứ quan hệ cậu chưa có.
Tối ấy, Túc đến nhà neo sau khi dàn hạ hàng xong. Cậu tháo áo ngoài còn ẩm, hỏi đã mất lượt nào. Nghiên kể cả lời Mộc, không chỉ bảo có người phàn nàn.
“Cho cậu ấy dùng đi,” Túc nói. “Ta cũng đâu tới được.”
“Cậu còn muốn học phần nào?”
Túc im một lúc rồi lấy sổ ra. Cậu muốn phân biệt lúc cần dừng vì khí của mình với lúc phải dừng vì cáp đổi tải. Ca vừa qua, người đứng trước báo chậm nhưng người sau lại tưởng chỉ cần kéo nhẹ tay. Cậu chưa có cách nói cho hai người hiểu cùng một điều.
Nghiên ghi mục tiêu ấy vào tờ mới. Anh bỏ dòng giữ học cụ theo tên, thay bằng phần cần làm và giờ đã xác nhận. Nếu Túc vắng, cuộn cáp được dùng cho người có việc phù hợp; cậu không mất quyền hẹn một lượt khác, nhưng cũng không tự có buổi bù ngay ngày sau. Khê và người giữ đầu dây đều có lịch của họ.
Mộc đọc tờ ấy vào buổi tiếp, hỏi phần mình phải ghi thế nào. Anh đề nghị cậu tự nói. Cậu viết: đổi hướng kéo mà không đợi người chỉ tay. Nghiên thêm bên cạnh chỉ làm bằng sức trước khi xét ghép khí. Cậu đọc rồi nhận một tuần dạy nền, trả một thẻ theo mức đã thuận, không mua trước những bài chưa được kiểm.
Đến chiều, Túc báo không thể làm buổi kiểm dây đổi sân của mình đúng ngày vì bị giữ ở dàn đêm. Người coi nhà neo không chịu dời; ngày sau số dây ấy phải đưa sang kho. Nghiên nhận thay, tự bỏ giờ đối bản dự tính, còn Túc phải thu dọn và trả dụng cụ vào lúc được xuống ca. Một chỗ trong lịch vừa đổi đã kéo theo cả buổi việc khác.
Anh xem dây đến khi đầu ngón tay bám bụi bện. Không có học viên đứng cạnh để biến buổi ấy thành giờ dạy. Phần nghề phải trả cho bến vẫn cần làm đủ, dù Túc được quyền nghỉ học.
Sáng sau, cửa kho nhờ đối thêm dấu mòn trên ba cuộn lưu lâu với sổ nhập cũ. Đó là việc ngoài hai buổi đổi sân, trả riêng ba thẻ nếu hoàn trước lúc chuyển kho. Nghiên hỏi rõ chỉ đối số và ghi chỗ khác, không xác nhận chịu tải cho cả dàn. Người quản kho nhận điều ấy rồi đưa sổ.
Anh làm hết buổi, cùng người kho lật từng cuộn để đọc dấu, trả bản đối chiếu và nhận tiền sau khi họ so lại. Lúc ra ngoài, Túc đang thu ghế ở nhà neo. Cậu hỏi anh có còn giờ ăn trước buổi Mộc tới không.
Nghiên nhìn nắng đã qua mép cửa, bảo phải dời buổi của Mộc muộn một chút. Chính anh cũng cần báo trước và chấp nhận cậu có thể không đến được, chẳng thể dùng công vừa làm để buộc người khác chờ.
Mộc nhận lời nhắn, vẫn tới vào giờ mới. Trước khi tập, cậu chỉ tờ lịch, hỏi nếu lần sau thầy bận thì có được ghi thầy vắng không.
“Cứ ghi.”
Cậu lấy bút viết một chữ dời ở ô của Nghiên. Anh nhìn chữ ấy, xoa bàn tay còn mỏi. Tờ lịch đã linh hoạt hơn, nhưng phần thời gian thiếu không biến mất. Hôm nay nó nằm trong buổi anh tự làm thêm ở kho và một bữa ăn phải ăn vội trong lúc chờ người học đặt lại chân.