Đỗ Mộc mang đến hai bản chép, một giữ trong túi, một trải kín nửa tấm ván. Chữ cậu đều, mũi tên thẳng và không thiếu lời nhắc nào Tạ Nghiên đã nói trong những buổi gần đây. Cậu còn chép cả phần Túc trả lời, ghi tên người nói bên lề.
“Lần này không cần nhớ nhầm nữa,” cậu bảo.
Nghiên đọc từ đầu. Bản có cả cách hỏi nền, chỗ đặt tay của từng người, dấu dừng, giờ nghỉ và những chỗ chưa được dùng khí. Mộc đã làm rất kỹ. Nhưng để tìm một dấu cần ngừng, anh phải đi qua hai đoạn kể thao tác từ đầu buổi.
Túc đến lúc anh đang đọc. Mộc đưa bản trải trên ván cho Túc giữ, nói đây là bản sao chép cho cậu, cứ thử xem có dùng được khi hướng dẫn người giữ dây mới không. Túc cầm lên, đứng ở khoảng nền, vừa nhìn giấy vừa đặt tay như sắp nhận đầu cáp.
“Đến lúc đọc xong thì người kia đã kéo rồi.”
Mộc chỉ một dòng, bảo phần ấy đã nằm đúng thứ tự. Túc lật sang mặt sau, tìm dấu cậu thường dùng lúc sức dồn khác hướng. Tìm được, cậu hỏi Mộc cho mình đánh dấu lại không. Mộc bảo cứ sửa trên bản sao, rồi quay sang nghe Nghiên hỏi một chữ ở bản chính.
Tiếng giấy xé làm cả hai ngẩng lên. Túc đã tách bản sao thành ba dải, mỗi dải chừa một phần trắng, gạch những chữ mình muốn giữ ra mép. Cậu đặt chúng cách nhau trên ván như ba thẻ riêng.
Mộc bước tới giật dải cuối.
“Tôi chép cả buổi, anh xé luôn thế à?”
Túc nhìn mảnh trong tay mình, lúc ấy mới thấy Mộc tiếc công đến vậy. Cậu bảo sẽ chép lại. Mộc không trả mảnh giấy, đưa bản chính vào túi rồi đứng quay mặt ra cửa.
Nghiên để cậu đứng yên một lúc. Anh không muốn dùng sự tiện của ba thẻ để gạt công chép, cũng không thể giữ cả tờ dài chỉ vì nó đã tốn công. Anh nhờ Túc nói rõ ba phần vừa muốn giữ, rồi hỏi Mộc có cho dùng bản sao đã xé để thử bằng sức không. Cậu miễn cưỡng nhận, với điều kiện không gọi chúng là bài mới của Túc.
“Vậy phải ghi được chúng lấy từ đâu,” Nghiên nói. “Cả chỗ sửa thiếu cũng giữ lại.”
Một người học giữ đầu dây đang chờ ở kho nhận lời thử. Anh ta chưa theo lớp khí, chỉ dùng cáp nhẹ ở nền, có thể buông khi Nghiên hạ sức. Không có Khê hôm nay nên không ghép khí hoặc lấy lượt ấy tính như học được công pháp.
Mộc đưa bản chính cho người kia đọc trước. Anh ta đọc rất chăm, hỏi lại hai từ rồi cầm dây. Khi Nghiên đổi hướng kéo một chút, anh ta cúi nhìn đoạn giấy để tìm bước tiếp, tay vẫn níu theo hướng cũ. Nghiên hạ sức, nhắc rời tay. Người kia nhận mình chưa kịp biết dòng nào dành cho tình huống vừa gặp.
Túc đặt ba dải riêng, chỉ chữ không rõ thì dừng, người bên kia chưa sẵn thì chờ, dây trả khác thường thì hạ. Anh ta thử lại bằng sức. Đến lúc Nghiên đổi lực, anh ta nhận có điều khác, nhưng hỏi hạ là thả hết ngay hay đi theo tay người giữ.
Túc mở miệng rồi nhìn sang Mộc. Bản ngắn đã bỏ đúng phần cần để không hiểu nhầm một chữ quen.
“Không thả giật,” Mộc nói trước. “Phải cho người kia biết mình đang ngừng.”
Mộc cầm lại bản chính, tìm đoạn ấy rất nhanh. Lần này cậu không đưa cả trang mà đọc phần giải thích, rồi hỏi người giữ dây sẽ nói câu nào cho Nghiên biết. Người ấy thử một lời báo gọn theo nghề mình. Anh nghe được, hạ lực để cả hai rời tay.
Họ đổi một hướng khác. Người mới không nhìn theo mũi tên của Mộc nữa, tự gọi dừng khi chưa chắc phải giữ về đâu. Túc cầm ba dải, bổ sung dưới chữ hạ bằng chính lời vừa được hỏi. Mộc lấy bút sửa phần tìm dấu trên bản dài, chừa một ô ngoài lề.
Nghiên yêu cầu mỗi người kể người mới đã tự nhận ra điều gì, điều nào còn phải hỏi. Mộc muốn nói bản mình đủ hơn, Túc muốn nói thẻ dùng nhanh hơn; cả hai đều phải bỏ câu ấy khi nhìn thấy một lượt mà chỉ ghép hai cách lại mới giúp người kia dừng đúng.
Người giữ dây về rồi, Túc lấy giấy chép lại bản đã xé như đã nhận. Mộc ngồi bên sửa một chữ, không lấy lại ngay để tự làm cho nhanh. Nghiên thu cáp, nghe cậu nhắc Túc giữ nguyên tên người viết trên đầu bản.
Túc hỏi dải giữa có cần chép thêm cả đoạn chờ không. Mộc đọc lại, ngừng bút ở một câu rồi bảo để người dùng hỏi thử lần nữa hãy thêm.
Anh để họ chép xong. Buổi này chưa có ai dẫn thêm được một đoạn khí, nhưng lần đầu Mộc giữ chỗ trống trên trang của mình cho câu hỏi người khác thực sự cần, thay vì lấp kín nó bằng mọi điều cậu có thể nhớ.