Thanh kiếm nằm trên bàn từ sáng tới trưa mà chưa ai hỏi giá.
Tạ Nghi đã sửa lại sống kiếm, làm sạch phần gỉ ở chuôi và thay miếng đệm dưới vòng chắn. Dưới ánh cửa, lưỡi kiếm trông sáng hơn hẳn mấy món đồ trên kệ. Hoài Ninh cầm lên xem sau khi khách chuyến sáng đi hết, thử đặt ngón cái vào chỗ tay thường tì.
“Dễ cầm hơn trước.”
“Trước nó kẹp tay,” Nghi nói. “Sửa đúng chỗ ấy.”
Anh đặt kiếm lại trên miếng vải. Hôm nay là ngày thứ mười ba. Lương đợt đầu đã trả, quỹ còn một trăm bốn mươi bốn viên. Anh cần lò có việc, và một món sửa đẹp để trên bàn có vẻ là cách mở đầu hợp lý.
Nhưng người bước tới tiếp theo chỉ muốn hỏi mượn kìm.
Ông mang một chiếc móc cong, gỡ từ dây chằng hàng trên xe. Đầu móc vênh sang bên, chỗ buộc dây có một gờ xước. Ông đưa cho Hoài Ninh, mắt nhìn quanh tìm đồ nghề.
“Nắn lại giúp tôi một chút. Tôi trả công.”
Hoài Ninh gọi Nghi tới xem. Cô không dùng kìm nắn ngay mà hỏi móc này giữ thứ gì. Nghe là bó ván trên xe, cô bảo phải xem cả chỗ gắn và dây, không thể sửa một món rồi bảo dùng được cho mọi thứ.
Ông chép miệng nhưng vẫn đi lấy xe.
Trong lúc chờ, Hoài Ninh đẩy kiếm ra mép bàn dễ nhìn hơn. Một người khách đi qua dừng lại, anh tưởng cuối cùng cũng có người hỏi. Người ấy chỉ dùng khoảng thép sáng để nhìn vết bẩn trên má mình, lau xong liền đi xuống bến.
Nghi nhìn theo, môi hơi động. Hoài Ninh đặt kiếm trở lại chỗ cũ trước khi cô kịp nói.
“Mình thử hỏi người ta cần sửa gì.”
“Anh vừa hỏi rồi.”
“Hỏi thêm vài người.”
Anh đem ghế ra cạnh mái chờ, ngồi cách lối xuống thuyền một khoảng. Những ngày vừa rồi anh thường hỏi khách mang bao nhiêu cân, đi mấy người; hôm nay anh hỏi món nào trong nhà đang hỏng mà chưa sửa được. Người đầu tiên tưởng anh định thu thêm phí, phải nghe giải thích mới chịu mở miệng.
“Đèn sấy. Chân đế nghiêng, đặt lên là chảy nước một phía.”
“Có mang tới được không?”
“Mang cả cái à? Nặng lắm.”
Hoài Ninh lấy giấy, nhờ người ấy vẽ chỗ nghiêng bằng mảnh than. Bức vẽ chẳng ra hình chiếc đèn, nhưng anh biết cần tới xem chân đế thay vì hẹn người ta gánh cả món xuống bến.
Một phụ nữ khác rút từ gánh ra miếng vách thuyền con đã bong mép. Bà dùng chiếc thuyền ấy ở ruộng trũng, không đi tuyến sông. Bà hỏi vá rồi có chịu được thêm một mùa không. Anh chưa dám hứa, xin giữ miếng vách để Nghi xem trước. Bà dặn đi dặn lại đây là miếng cuối cùng của tấm cũ, đừng nung lẫn vào phế.
Đến lượt người làm thuê mang thúng rỗng, anh ta nói không có đồ gì đáng sửa. Hoài Ninh nhìn quai thúng quấn giẻ, hỏi thử thì bị đáp ngay:
“Cái ấy tôi tự buộc được. Anh sửa bằng sắt còn đắt hơn cái thúng.”
Anh ghi cả câu đó. Có những việc người ta cần, nhưng không cần một cái lò làm giúp.
Tới chiều, trên bàn cạnh thanh kiếm có thêm móc chằng, miếng vách và một đế đèn nhỏ. Người giữ nhà phải đem trả ghế vì chỗ ngồi chờ chuyến đang thiếu. Hoài Ninh xách những món có thể mang vào lò, để giấy vẽ riêng khỏi lẫn.
Nghi nhấc chiếc móc lên trước.
“Món này làm được bằng vật tư còn lại. Tôi xem xe rồi, chỉ nắn phần mép dây cọ, không sửa cái đầu đã mỏi để anh ấy kéo hàng nặng hơn.”
“Cần nói rõ trước lúc nhận.”
“Tôi nói rồi. Còn phải ghi cho ông ấy đem về.”
Hai người kê lại móc để đo. Phần sửa nhỏ hơn Hoài Ninh nghĩ, song mất công làm mẫu vị trí buộc và chờ nguội. Chủ xe đứng ngoài cửa giục có thể lấy ngay được chưa. Anh mời ông vào nhìn dấu thử, hẹn chỉ nhận công khi món được kiểm xong với lượng hàng đã thống nhất.
Ông gật, hỏi liệu mai có kịp chuyển ván không. Hoài Ninh hẹn trả món để thử, không hẹn nó sẽ giữ nổi một xe đầy chỉ từ lời người chủ nói.
Khi khách về, Nghi lấy vải phủ lên kiếm. Bàn làm việc bớt được một khoảng, đủ đặt miếng vách còn dính bùn.
“Công thanh kiếm ấy thì sao?” cô hỏi.
Hoài Ninh cầm nó lên, định bảo cứ để thêm vài ngày. Rồi anh nhìn những dòng ghi ngoài mái chờ. Ngay cả người đã nhìn kỹ kiếm cũng chỉ dùng nó soi mặt.
“Giữ lại. Có khách thật thì tính. Mai mình làm cái móc trước.”
Nghi nhận kiếm, cất lên kệ. Hoài Ninh lau bàn, nhặt riêng mảnh giấy khách vẽ chân đèn. Anh chưa bán được món gì trong ngày mở lời hỏi việc, nhưng sáng mai đã biết nên lấy thứ nào xuống khỏi kệ.
Trước khi đóng cửa, anh viết tên chủ xe vào thẻ buộc trên móc. Nếu mai người khác tới lấy hộ, họ còn biết món ấy đã được dặn dùng thế nào, thay vì chỉ thấy một miếng sắt vừa được nắn thẳng.