Người đàn ông gánh hai sọt cá đi thẳng qua bàn nhận khách, xuống tới dây chắn mới dừng.
“Tôi tới rồi. Đừng đi vội.”
Hoài Ninh đang lau bảng, ngẩng lên bảo hôm nay chưa mở chuyến. Người ấy chỉ chiếc đèn vàng dưới mái, hỏi nếu không đi thì thắp đèn gọi người ta xuống làm gì. Anh quay nhìn ngọn đèn, mất một lúc mới hiểu ông không hề đọc tấm bảng đặt ngay bên cạnh.
Đèn báo có người trực và chỗ nhận tin. Đó là điều đội đã bàn. Khách nhìn thấy một đốm sáng ở bến, nhớ những buổi còn đò, rồi gánh cá tới trước khi bán được ở chợ gần.
“Tôi có biết chữ đâu,” ông nói khi anh chỉ bảng. “Cứ nhìn cái đèn còn sáng.”
Hoài Ninh nhấc dây cho ông quay lên, không để người mang gánh đứng chờ ở bậc trơn. Cá trong sọt còn cựa, nước rỏ thành vệt trên đá. Ông hỏi nếu chờ nửa canh có đi được không. Anh xuống hỏi Tú Nương, được trả lời chưa đủ điều kiện để hẹn, liền nói lại nguyên phần ấy.
Ông khách nhìn những sọt cá rồi ngồi xuống mép mái. Không có tờ giấy nào giúp ông lấy lại quãng đường đã đi.
Ngày thứ bảy mươi hai, Hoài Ninh đưa chuyện ấy ra lúc đổi ca. Người mới trực bờ bảo tưởng ai tới cũng sẽ hỏi trước; người giữ nhà nhắc có khách nhìn bảng nhưng hiểu màu đèn khác nhau. Tú Nương lấy chiếc đèn vàng ra khỏi chỗ treo ở đầu lối xuống, đặt sang phía nhà trú.
“Nếu dùng cho nhà trú, phải để ở nhà trú,” nàng nói. “Đừng để khách tưởng đó là đèn dẫn chuyến.”
Anh nhìn ra sông. Hai trụ dẫn bến vẫn hoạt động trong giới hạn đang giữ, trụ giữa tiếp tục ngừng. Dời một chiếc đèn báo trên bờ không sửa được luồng dưới sương; anh ghi riêng việc cần thử hai trụ hiện có trong điều kiện mùa này, không đánh dấu nó đã xong chỉ vì hôm nay bến đổi tín hiệu.
Họ thử một tấm dấu có hình mái chèo bị gạch ngang, treo ngay chỗ dây chắn, đủ thấp để người mang gánh thấy trước khi xuống bậc. Khi ngừng nhận, người trực phải nói rõ ngừng chuyến, nhà trú còn nhận hay đã đủ. Hai việc được báo riêng, không gom vào một chữ mở.
Hoài Ninh đem tấm dấu tới người bán cá, xin ông nhìn thử. Ông nhận được hình mái chèo, nhưng tưởng dấu gạch là báo hỏng chèo chứ không phải ngừng đò. Anh gọi cô bé phụ lò tới vẽ lại phần hình cho dễ nhận hơn, rồi mời mấy người đang chờ giải thích bằng lời họ hiểu.
Một người đọc được chữ trả lời đúng ngay. Hoài Ninh không dùng câu ấy để kết thúc. Anh quay sang một phụ nữ không đọc được, hỏi nếu chỉ nhìn từ đầu sân, bà sẽ làm gì.
“Tới hỏi. Có đèn là có người.”
“Có nghĩ chắc còn chuyến không?”
“Không chắc. Nhưng đừng để người trông ngồi trong nhà, gọi mãi không thấy.”
Người nhận ca bờ ghi thêm vị trí đứng lúc có khách tới. Tú Nương thử đi từ lối xóm vào, mang một gánh rỗng để xem bảng có bị che. Một góc hình khuất sau bao đồ gửi; Hoài Ninh chuyển bao, không tăng thêm tấm bảng mà vẫn để hàng chắn trước mặt.
Họ không bỏ lời báo của người trực. Người mới phải nói thử với người bán cá đang ngồi gần đó, để ông nhắc lại mình đã nghe gì. Lần đầu anh ta nói chờ thông báo mở, ông liền hỏi thế chắc lát nữa có đi. Anh ta sửa thành chưa hẹn được giờ, nếu ông rời bến thì nhắn nơi nhận tin, đừng ngồi chỉ vì tưởng đã có một chuyến chờ mình.
Tới trưa, khách nhận ra nhà trú sáng đèn vẫn có thể là lúc bến đóng. Nhưng người bán cá chưa nguôi. Ông hỏi không nhận cá thay tiền thì có nhận chở giúp một lượt cho khỏi hỏng không.
Hoài Ninh nhìn Tú Nương, không đẩy nàng ra trả lời thay mình.
“Chưa đủ điều kiện đi. Tôi giúp ông hỏi chỗ bán ở xóm gần được, không nhận chuyến này.”
Ông bảo chỗ ấy mua thấp giá hơn, cuối cùng vẫn đứng lên gánh đi. Hoài Ninh nhờ người chỉ đúng đường, không hứa sẽ có nhà mua hết hai sọt. Dấu mới sau lưng ông còn chưa khô mực.
Buổi tối, anh nhập bốn viên thu đã đối trong đợt từ tiền đò và những món sửa được nghiệm thu. Hai viên chi thường được trả cho đèn, vật tư và phần tiêu hao đến kỳ. Quỹ từ một trăm linh chín thành một trăm mười một; tiền cứu hộ còn mười vẫn ghi riêng trong dự toán.
Trước khi về kho, anh cùng người trực đi từ đầu sân xem lại. Đèn vàng nằm phía nhà trú, dấu ngừng đặt ở lối xuống, hai người đều nói được đâu là chỗ hỏi tin. Hoài Ninh để bảng ở đó, mang sổ vào, chưa gạch hết dòng cần xem lại những ngày sương che dày hơn.