Chiếc đèn trở lại Hồi Đăng vào chiều ngày thứ sáu mươi, vỏ còn đọng nước.
Vừa nhận ra khách, Hoài Ninh đã định đem khăn lau, nhưng người ấy xua tay, bảo để Nghi xem đúng lúc mang từ thuyền lên. Món được sửa theo mẫu có mép thoát nước mới; sau những lượt thử tại lò, khách còn dùng qua mấy ngày đã hẹn rồi mới chốt công.
Nghi đặt đèn lên giá, đợi ngừng hẳn mới mở vòng che. Dưới mép nối không có vệt ướt như lần mẫu rò ngoài mưa. Hoài Ninh nghiêng vỏ theo hướng từng đánh dấu, xem đường nước đi ra ngoài rồi mới lấy giấy đối.
“Có lúc nào ánh chao khác thường không?” cô hỏi.
“Lúc thuyền nghiêng tôi có đổi chỗ đặt. Không rít như hai người dặn phải ngừng.”
Nghi hỏi tiếp người ấy đặt thế nào. Nghe xong, cô chỉnh lời dặn giữ chân đèn khỏi chỗ nước đọng, rồi đưa ông thử cách khóa vòng. Việc trả món cần nhiều hơn một câu “đèn sáng tốt”, nhưng ông không giục; ngoài sân còn một người chờ để nhờ xem đèn nhà mình.
Mấy chiếc móc chằng đã giao thử cũng có tin cùng đợt. Chủ hàng đem giấy tải, nói rõ lượng đã giữ, không chỉ bảo kéo khỏe. Hoài Ninh đối lại những phần khách đã làm theo rồi kiểm chỗ chịu lực. Có một món cần nhẵn thêm cạnh dây cọ, Nghi giữ lại làm đúng phần bảo hành, không gộp nó vào những món đã chốt đủ.
Chủ món nhờ lần sau giao cho người nhà tới lấy. Hoài Ninh ghi cách nhận lên thẻ, hẹn buổi sửa xong rồi mới gửi về. Ông khách để cả đoạn dây đã bị cọ cho họ đối, không phải chỉ tay vào một vết nhẵn bóng mà đòi đoán nó từng giữ thứ gì.
Người nhận đèn có nắp dùng móc nhỏ của học việc tới sau. Ông tự mở khép trước mặt cô bé, cho nó xem mép không mắc. Nó đưa tay định đón, rồi nhìn Nghi, đợi cô cho đặt xuống. Hai dấu dưới mặt gá vẫn nhận được; lần này không ai hỏi có thể bớt tiền vì một phần do học việc làm không.
Tiền được đối theo các món đã qua thử và nhận đúng hẹn. Tới tối, những khoản thu thêm của đợt cuối đủ bảy viên. Hoài Ninh nhập sổ riêng từng món, giữ các giấy còn chờ ngoài phần đã thu. Cộng với tám viên tiền đò và sáu viên nghiệm thu trước, thu của đợt sau ngày mười hai thành hai mươi mốt.
Nghi ngồi xuống nhận phần công. Những buổi trước, Hoài Ninh thường nhìn tiền lương như một khoản cần lấy từ hòm vốn ra. Hôm nay anh đặt ba viên từ phần vừa thu để trả công đã đối trong đợt cuối, không phải vay thêm ở túi riêng. Hai viên chi thường cho các khoản ăn, đèn và vật tư đến kỳ được thanh toán tiếp. Quỹ từ một trăm mười một thêm bảy rồi trừ năm, còn một trăm mười ba.
Anh kiểm xong mới đóng hòm. Đủ tiền trả đợt này chưa có nghĩa lò giàu, càng chưa phải phần còn lại muốn lấy bao nhiêu cũng được. Nhưng khi Nghi cất tiền vào túi, anh không còn phải hứa công rồi chờ một đơn kiếm chưa biết ai mua.
Trên kệ cao, thanh kiếm mẫu vẫn bọc vải.
Hoài Ninh đưa tay nhấc xuống. Nghi nhìn anh, hỏi có khách đặt sửa kiếm à. Anh lắc đầu, chuyển nó vào chỗ đồ giữ riêng để lấy khoảng ngoài bày đế đèn và mẫu móc. Những món ấy nhìn nhỏ, mép còn dấu dùng cũ, nhưng người tới cửa nhận ra ngay nó liên quan tới việc nhà họ.
“Từ mai bảng nhận việc ghi sửa móc, đèn, vách và đồ sấy trước,” anh nói. “Việc khác xem được mới nhận, không treo kiếm ngoài cửa gọi người ta vào rồi nói chuyện khác.”
Nghi mang tấm bảng cũ tới. Cô thêm giờ mở và giờ dừng, để rõ cạnh phần nhận sửa. Hoài Ninh chờ mực khô mới treo, không lấy chỗ trống để hứa nhận gấp. Cô bé phụ lò giữ giúp đầu dưới, hỏi có cần vẽ một chiếc móc cho người không đọc được chữ không. Nghi cho nó phác bằng than, sửa cái đầu cong đang bị vẽ giống lưỡi câu.
Ngoài mái, hai khách vừa nhận đồ hỏi nhà trú có cho ở đêm khi lỡ chuyến không. Hoài Ninh dẫn họ tới xem chỗ nhận khách, nói số chỗ và giờ phải báo người giữ nhà. Một người bảo sẽ nhắn người quen mang đồ sửa cùng chuyến sau, tiện ở lại nếu về muộn. Anh chỉ nhận lời xem món, không giữ trước giường cho một số người chưa biết.
Khi trở về kho, anh gặp Tú Nương đang xem sông. Nàng nói mấy buổi gần đây sương rút chậm hơn, cần sắp lại phần trực trước mùa. Hai trụ đèn còn hoạt động sáng nhạt; trụ giữa vẫn tối, trên bảng vẫn ghi ngừng vì chỉ sai luồng.
Hoài Ninh đứng cùng nàng một lát rồi ghi việc ấy vào lịch cần bàn. Ngày lên đồi anh muốn vẫn chưa được khoanh. Sau lưng, Nghi đã dọn bàn và khóa cửa đúng giờ; dưới bảng mới, người khách cuối đang đọc cách gửi đồ cho buổi sau.