Hoài Ninh nhìn bậc đá dưới ánh đèn, tưởng nước đã rút xuống một vạch.
Phần mặt đá lộ ra sáng hơn hôm trước. Anh bước xuống thêm một bậc để xem, tay giữ cọc buộc. Vệt ướt chạy ngang chân cửa thấp phía bến có vẻ đã cũ, còn đường nước đang động nằm bên dưới. Nếu chỗ vào bến bớt kéo, có thể họ sẽ nhận thêm được một khoảng chuyến cuối ngày.
Anh lên báo Tú Nương, nói mình thấy nước đã rút.
Nàng đang kiểm đèn xách, ngừng tay.
“Anh nhìn ở đâu?”
“Bậc dưới. Đường tối sát cửa thấp.”
Tú Nương cầm đèn theo, mời anh chỉ lại. Ngày thứ chín mươi lăm chưa tối hẳn, nhưng sương đã che phần xa, ánh trụ bên ngoài kéo thành vệt dài trên nước. Hoài Ninh đứng đúng chỗ lúc trước, chỉ mép sáng và khoảng đá anh tưởng vừa lộ ra.
Nàng không nói đúng hay sai ngay. Nàng đổi vị trí chiếc đèn trên tay, cho ánh thấp đi. Đường tối anh vừa chỉ biến thành một mảng ướt, mép trên không còn liền như lúc đứng xa.
Hoài Ninh cúi nhìn, nhận ra mình đã lấy phần phản sáng làm ranh nước. Nước lăn nhẹ vào chân đá, rút ra rồi lại tới, không đứng yên thành một nét dễ đọc.
“Cọc đã ghi đâu?” nàng hỏi người trực bờ.
Người ấy đem sổ đo ra, chỉ cọc gần đoạn áp mạn, nơi đội đã lấy mốc cố định để đối mỗi buổi. Tú Nương xuống theo lối có tay vịn, để Hoài Ninh đứng giữ sáng ở chỗ khô. Nàng không cho anh bước thêm vì muốn nhìn gần hơn.
Đọc cọc xong, nàng đối dấu ở mép bậc cùng bản ghi buổi trước. Mức nước chưa thấp như lời anh báo; so cùng mốc còn cao hơn một đoạn. Vệt cũ trên chân cửa không phải nét của riêng lượt nước hiện tại, không dùng thay được dấu đã ghi giờ.
“Nếu nhận chuyến theo chỗ tôi nhìn thì sao?” anh hỏi.
“Phải đo lại như bây giờ. Rồi còn xem dòng. Mực nước thôi chưa quyết hết.”
Hoài Ninh nhìn chiếc đèn mình đang giữ. Anh biết điều chỉnh nó sao cho ánh không chói mặt người gác mũi, biết nghe mối đồng khi món đã dừng. Những điều ấy không làm mắt anh đọc đúng mọi vệt nước chỉ vì đã đứng ở bến mấy tháng.
Anh xin lấy bản ghi để đọc cùng. Người trực bờ chỉ hai dòng mốc, một dòng ghi ngay sau đổi ca và dòng hiện tại. Nếu không có giờ cùng vị trí, hai vệt than ở hai chỗ khác nhau sẽ rất dễ bị anh ghép thành nước đang rút.
Họ lên lại bàn, giữ nguyên quyết định chưa nhận chuyến thêm. Có hai người hỏi từ lúc anh vừa xuống; Hoài Ninh tự nói mình đã nhìn sai, đang đối lại theo cọc chứ chưa được thuyền trưởng cho mở. Một người lắc đầu, bảo vừa nghe nước rút đã mừng, rồi mang gánh về mái đợi tin sau.
Tú Nương nhờ anh đứng đổi chỗ với người giữ sáng, thử đọc từ điểm đo đúng. Lần này anh nhận được vạch nhưng chưa chắc mép nước đang chạm đâu, phải đợi nó bớt xao mới đọc lại. Anh báo cả phần chưa chắc ấy. Nàng đối thêm một lần, không vì anh là người giữ bến mà ghi ngay con số đầu vào sổ.
Anh không gọi kết quả ấy là lỗi đèn hỏng. Hai trụ còn lại vẫn làm đúng phần đang nhận, trụ giữa vẫn ngừng. Cách nhìn của anh mới là thứ cần sửa. Nghi tới nhận lại đèn xách, nghe anh nhắc đầu dò thì hỏi có cần xem vỏ không.
“Không. Vỏ không có lỗi. Tôi đem thứ quen tay ra nghĩ cho việc mình chưa biết đủ.”
Cô nhận đèn, hỏi giá kê ngoài sân còn cần giữ không. Hoài Ninh bảo để dành cho buổi thử đã hẹn, không biến nó thành dụng cụ đo nước mới chỉ vì vừa đặt gần bậc.
Tối ấy, anh cùng Tú Nương sửa tờ kiểm trước chuyến. Người xem cọc phải đối cùng điểm, cùng cách đặt thước, ghi giờ rồi mới báo. Nếu nhìn dấu trên bậc thì chỉ coi là điều cần kiểm thêm, không tự đổi trạng thái luồng. Người trực bờ làm thử một lượt, nói lại con số và chỗ lấy, để không lặp cách báo nước thấp hơn mà thiếu mốc.
Hoài Ninh đứng ở vị trí người nghe, hỏi thấp hơn so với lúc nào. Câu trả lời lần đầu còn thiếu giờ, họ quay về sổ đối lại. Không ai phải xuống thuyền nhận khách trong lúc buổi tập chưa xong.
Anh thanh toán hai viên cho phần đèn và ca trực thường đến kỳ, quỹ còn một trăm linh bốn. Khoản cứu hộ riêng vẫn giữ nguyên năm đã dùng, bảy còn dự trù; buổi đọc lại cọc không tự biến thành một chuyến cứu ngoài bến.
Khi đi qua chân cửa lần cuối, Hoài Ninh vẫn nhìn thấy một đường tối tưởng như rất rõ. Anh dừng ở tay vịn, không bước xuống lấy nó làm tin. Từ bàn trực, người ghi cọc báo giờ vừa đối; anh quay lại nhận bản ghi ấy trước khi đi về kho.