Trong nhà, chiếc đèn sáng liền ba lượt thử.
Hoài Ninh ngồi ở đầu bàn, chờ Nghi ngừng dẫn khí mới chạm vào phần đế. Mối mới không nóng lệch, vỏ cũ không có tiếng rung mà cô lo từ hôm mở. Ngày thứ bốn mươi lăm, trên kệ cuối cùng đã có một món đèn có thể đưa ra cho khách xem mà không phải chỉ vào một tờ vẽ.
Nghi khắc dấu sửa ở dưới đế, chưa buộc giấy giao.
“Mang ra sân thêm một lượt.”
Ngoài mái, trời đang mưa nhỏ. Hoài Ninh lấy giá kê, chọn chỗ không có người qua, để đèn cách vũng nước và lối xuống bến. Món này là đèn xách cũ của lò được sửa làm mẫu cho người đi thuyền. Khách đã hỏi nếu đặt trên mạn gặp mưa thì dùng được bao lâu; mấy lượt thử trong nhà khô ráo chưa trả lời được câu ấy.
Hai người che riêng chỗ điều khiển, đứng dưới mái, cho đèn chạy như lúc ở bàn. Một thuyền viên giữ lối sân để người mang gánh không đi ngang qua dây và giá thử. Hoài Ninh vừa ghi mức sáng thì Nghi đưa tay ra hiệu dừng.
Ở vai nối có một tiếng rít nhỏ. Ánh đèn chao, yếu đi rồi lại sáng.
Anh định nhìn gần hơn, Nghi đã ngắt phần dẫn khí.
“Đừng chạm. Đợi hết đã.”
Mưa vẫn rơi, chiếc đèn tắt nằm giữa giá kê. Hoài Ninh nhìn dòng ghi ba lượt tốt trên giấy. Anh chưa kịp mừng lâu thì một điều kiện khác đã làm kết quả ấy thành chưa đủ.
Một người khách đang trú mái hỏi đã bán đèn chưa. Nghi đáp ngay:
“Chưa. Món này phải sửa lại.”
Người ấy chỉ gói đèn nhỏ mình định gửi theo mẫu, hỏi có thể thay đệm rồi giao cả hai vào buổi tới không. Cô xin hoãn ngày nhận, chưa biết sửa chỗ nào cho tới khi được mở ra. Người khách nghe vậy thu gói vào lòng, bảo sẽ quay lại hỏi sau.
Hoài Ninh giữ miệng không hẹn thay cô. Anh nhờ người thuyền viên ở lại đến lúc dọn xong, ghi phần công thêm của buổi thử. Đèn ngừng hẳn và được kiểm an toàn rồi họ mới đưa vào dưới mái, giữ nguyên hướng để nhìn đường nước chảy trên vỏ.
Nghi tháo vòng che. Một giọt nước còn mắc trong mép ghép, thấm xuống đúng chỗ đệm nối. Trong nhà khô, đường ấy không lộ ra; ngoài sân, nước men theo vai vỏ cũ xuống mặt mới sửa.
Cô đặt một dải vải khô dưới vai, nghiêng vỏ đúng góc trên giá. Vệt ướt lan tới mép nối trước khi chảy xuống ngoài. Hoài Ninh nhìn rõ đường ấy, tự thử lại với mấy giọt nước, rồi mới đánh dấu chỗ cần đổi. Không phải cứ bọc phần đế đang ướt là chặn được nước từ trên xuống.
“Lõi đúng mẫu không có nghĩa cả vỏ đã kín,” cô nói.
Hoài Ninh đặt mảnh đồng đã mua cạnh đường ghép. Nó khớp như lúc ở Sơn Dư, không phải một món sai cỡ để đem trả người bán. Anh nhận ra mình đã nghĩ mua đúng vật liệu là vượt qua phần khó nhất, nên muốn ngày giao cũng tiến nhanh theo.
“Có thể làm mép chắn nước ở đây không?”
Nghi lấy than vạch đường nước trên vỏ, thử đặt một miếng mỏng lên vai. Nếu bọc kín hẳn, phần cần tản hơi lại bí; nếu chỉ chụp từ trên, nước nghiêng vẫn có thể luồn dưới mép. Hai người kê thử mấy vị trí, cuối cùng chọn sửa phần che để nước thoát ra ngoài đường nối, không ép kín cả món bằng nhiều đệm hơn.
Lần ấy chưa làm nóng ngay. Hoài Ninh chép phần phải đổi vào giấy thử, giữ lại mẫu đệm ướt cho buổi đối. Nghi đã làm từ sau ngọ; nếu cố thêm tới khi có một kết quả đẹp, cô sẽ lại phải nhận một ca khác dưới tên làm nốt.
“Mai theo giờ cũ,” anh nói. “Khách cần báo, để tôi báo.”
Nghi nhìn anh rồi gật. Cô hỏi phần thử lại có trừ vào công của mình không. Hoài Ninh lắc đầu. Đây là thử mẫu do lò nhận, không phải món đã giao mà cô tự giấu lỗi; anh chịu khoản công đã hẹn cho cả lần phải làm lại.
Tới tối, anh thanh toán hai viên tiền công thêm của đợt thử, ghi vào chi thường. Vật liệu mở đối và sửa mép dùng phần đã mua, không trừ giá lô Sơn Dư lần nữa. Quỹ từ một trăm mười bảy còn một trăm mười lăm; chưa có tiền bán đèn bù vào.
Sáng hôm sau anh tới mái chờ, sửa ngày hẹn trên tấm bảng mẫu. Một người chờ chuyến đọc được, hỏi đèn hỏng rồi sao vẫn để trên bàn. Hoài Ninh trả lời họ giữ làm mẫu sửa, chưa nhận bán theo nó, rồi quay vào lấy bản ghi cho khách đã hỏi hôm trước.
Nghi đang nhìn chỗ mép chắn mới kê. Cô đặt chiếc đèn về đúng hướng tối qua, bảo anh giữ giúp trước khi đánh dấu. Ngoài sân, mưa đã tạnh, nhưng chậu nước vẫn được để lại cạnh giá. Lần tới nếu trời khô, họ cũng chưa được bỏ qua lượt thử ấy.