Nghi giữ chiếc vách thuyền trên giá, gọi Hoài Ninh lại đỡ thay cô bé học việc.
Anh đang ghi giờ hẹn ngoài cửa, phải bảo khách chờ rồi bước vào. Chỗ kê thứ hai còn trống. Trên ghế vẫn có mảnh gỗ cô bé dùng tập đánh dấu, nhưng người đã tới phụ mấy buổi gần đây không xuất hiện.
“Có nói nghỉ hôm nay không?”
Nghi lắc đầu, nhờ anh giữ đúng mép cho cô kẹp lại. Món chưa nóng, họ còn đặt xuống được; chậm thêm một lát thì công việc cần hai người sẽ phải chuyển hẳn sang buổi khác.
Đến quá ngọ, cô bé mới chạy tới, ống quần còn dính bùn. Nó đứng ở cửa, tay nắm vạt áo, xin nghỉ mấy buổi để về giúp nhà gặt. Hoài Ninh nhìn nắng trên sân. Hôm nay là ngày thứ ba mươi tám, ruộng quanh xóm đã bắt đầu đông người từ sáng.
“Sao không báo từ hôm qua?” anh hỏi.
“Con tưởng trưa làm xong. Mẹ bảo trời thế này phải tranh thủ.”
“Ở đây có món cần người đỡ. Không biết em nghỉ thì chúng tôi vẫn kê việc ra.”
Cô bé nhìn chiếc vách đã được kẹp, mặt xịu xuống. Nó xin chiều làm bù, rồi lại ngập ngừng vì ở nhà chưa chắc đã xong.
Nghi đặt dụng cụ xuống.
“Đừng nhận buổi em chưa tới được. Còn mấy ngày phải gặt?”
“Con chưa biết.”
Hoài Ninh lấy lịch, vừa định khoanh hẳn một quãng nghỉ thì dừng. Có buổi cô bé chỉ bận sáng, có ngày phải ở nhà tới tối; xóa hết cũng chẳng làm lịch đúng hơn. Anh nhờ nó kể những việc đã biết chắc, phần còn lại để trống, báo lại trước khi họ nhận món cần người phụ.
“Nghỉ rồi còn được học tiếp không?” nó hỏi.
“Có. Nhưng phải nói trước. Buổi không làm thì không ghi công, buổi tới làm vẫn tính như đã bàn.”
Cô bé thở ra, nhận tờ lịch nhỏ Nghi chép lại. Phần học đánh dấu, kê nguội và giữ đồ được dời sang những buổi nó tới được; việc nóng cô vẫn tự làm. Hoài Ninh sửa hẹn của chiếc vách, nhận phần đỡ hôm nay, không lấy lời cô bé hứa bù để hẹn thêm khách khác.
Nghi dặn nó nếu nhà đổi buổi gặt, nhắn trước khi nhóm lò, không cần chạy tới chỉ để xin nghỉ. Cô bé nhắc lại giờ phải báo, nhét giấy vào trong áo cho khỏi ướt rồi mới cúi xuống phủi bùn bám ngoài bậc.
Khi nó vừa đi, một người đàn ông dừng dưới mái, hỏi có phải lò đang tìm người phụ. Ông mang túi nhỏ, dáng đứng hơi nghiêng khi chuyển trọng lượng sang chân trái.
“Tôi không biết nghề lò,” ông nói trước lúc Hoài Ninh mời vào. “Tôi muốn bàn việc dạy người đọc luồng.”
Tú Nương từ bến lên, nhận ra ông.
“Ông Lục?”
Người ấy gật. Qua lời giới thiệu, Hoài Ninh biết tên ông là Lục Thế Khang, từng trấn bến ở đây. Anh đã thấy công trình cũ còn dùng và những trang sổ phải đối, nhưng chưa gặp người từng trực tiếp giữ đoạn sông này.
“Ông muốn nhận ca?” anh hỏi.
“Tôi muốn dạy phần tôi biết, có giờ và có công. Không nhận mình đứng cả ngày dưới bến.”
Thế Khang hỏi bến đang có mấy người đo nước, đã lưu những dấu nào. Tú Nương mang bản chép điểm đo xuống bàn. Ông nhìn đường vòng, hỏi dấu bãi được xem vào những lúc nước khác nhau chưa; nàng trả lời mới đủ những buổi đã ghi, chưa có cả mùa.
Hoài Ninh nghe, định hỏi liệu ông có thể đưa họ đi ngay chiều ấy không. Nhưng chiếc vách vẫn đợi trong lò, một thuyền viên còn phải về trước tối. Anh mở lịch, nhận ra mình lại sắp xếp một buổi chỉ vì vừa có người biết việc tới cửa.
“Phải chọn lúc người học có mặt,” anh nói. “Và đối rõ phần dạy, thù lao trước khi làm.”
Thế Khang kéo ghế ngồi, không tỏ vẻ bị chậm tiếp đãi. Ông hỏi có cần dạy trước cách ghi dấu từ bờ, để buổi xuống thuyền khỏi mất giờ giải thích. Tú Nương đồng ý xem cùng, nhưng muốn giữ quyền chọn đoạn thử và kiểm lại với những điểm đội đã đo.
“Được,” ông đáp. “Tôi chỉ được chỗ nào thì chỉ chỗ ấy. Chỗ đổi rồi phải đo lại.”
Họ chưa mở một lớp đông hay nhận thêm người vào ca cứu hộ. Hoài Ninh ghi buổi thử dạy hữu hạn, phần công sẽ đối riêng khi làm; không lấy danh người cũ để thay việc kiểm hiện tại. Cô bé phụ lò sẽ không bị kéo ra sông học nghề khác trong những buổi đã nhận ở lò.
Thế Khang xem bản lịch, chọn lúc hai thuyền viên đều rảnh theo lời Tú Nương rồi đứng dậy. Trước khi đi, ông hỏi mượn bản sao điểm đo để chuẩn bị. Nàng chép cho ông phần cần dùng, giữ sổ gốc tại bến.
Hoài Ninh trở vào đỡ vách. Nghi xoay mặt kê, hỏi buổi ngày mai đã sửa chưa. Anh lấy tờ hẹn đưa cô xem, phần trống vẫn để trống. Ngoài sân, cô bé đã đi khuất về phía ruộng; dưới mái, người giữ bến cũ ngồi chờ bản sao, không ai được tự động tính vào chỗ người còn thiếu.