Hà Sâm bảo Tạ Duy đừng đặt chén trà xuống bàn.
Anh chưa kịp rút tay thì mặt bàn đã nghiêng, nước tràn qua miệng chén. Ông lấy giẻ chặn lại, vẻ mặt chẳng ngạc nhiên. Dưới chân bàn, hai mảnh ngói chồng lên nhau vừa trượt ra khỏi chỗ kê.
“Chân ấy mọt rồi,” Hà Sâm nói. “Ta định sửa từ tháng trước.”
Tạ Duy đặt chén lên bậu cửa. Anh tới đây theo địa chỉ ở cuối bản đo cũ, mang theo tờ giấy có vòng khoanh chờ khảo. Hà Sâm từng làm khảo sư của đội đo nhánh tây; người giữ sổ nói ông còn giữ dụng cụ, nếu muốn đo thêm thì thử hỏi.
Lúc này, dụng cụ đầu tiên Tạ Duy thấy là một chiếc đục cùn và cái bàn chực đổ.
“Trong sân có gỗ thừa không?” anh hỏi.
Hà Sâm nhìn túi dây thước của anh, rồi chỉ về mái hiên. Tạ Duy kéo chiếc ghế ra đỡ mặt bàn, tháo chân hỏng. Phần gỗ bên ngoài còn cứng, bên trong đã rỗng gần nửa. Anh cắt đoạn mới, gọt mộng theo dấu cũ. Làm tới khi trời sắp tối, anh mới kê được cả bốn chân đứng vững trên nền gạch.
Trong lúc chờ, Hà Sâm đã đọc hết bản đo. Ông cầm tờ ghi vạch ẩm sát cửa sổ, xoay nó đón chút sáng còn lại.
“Ngươi lấy mẫu chưa?”
“Chưa. Ta chỉ có hộp dùng cho buổi đo sáng, đã trả cùng đoàn.”
“Thế còn hơn lấy lẫn rồi quên nó từ đâu ra.”
Ông mở chiếc hòm dưới giường, đưa ra ba hộp nông có nắp và một khay bọc vải. Tạ Duy đỡ lấy khay. Nó nặng hơn anh tưởng, viền gỗ sẫm ôm một lớp cát trắng mịn. Ở một góc có hàng chữ nhỏ đã mòn: Khuyết Thước.
Anh từng thấy sa bàn trong phòng khảo, nhưng chiếc này có những rãnh dẫn cắt sâu xuống đáy, chia thành từng đoạn có thể ghép lại. Hà Sâm kéo ghế tới, bảo anh đặt khay lên chiếc bàn vừa sửa.
“Của đội cũ. Ta giữ, không phải tặng ngươi.”
Tạ Duy đưa tay phủi bụi ngoài viền, tránh chạm cát.
“Ta được mượn bao lâu?”
“Chừng nào ngươi còn ghi nguồn mẫu và trả được nó nguyên vẹn. Chân bàn đổi công dạy dùng hôm nay. Còn việc khảo, tự lo.”
Hà Sâm lấy bản số cũ đặt cạnh khay. Ông chỉ từng chốt chỉnh cao độ, từng ô để mẫu. Những vật liệu biểu diễn đã dùng phải nhặt riêng, không đổ lẫn vào hộp chưa thử. Tạ Duy ghi lời dặn lên mặt sau tờ giấy bọc, rồi chép lại số đo buổi sáng vào một trang mới.
Anh chưa có linh lực. Khi mọi đường dẫn được xếp xong, Hà Sâm đặt hai ngón tay lên nút đồng ở góc khay. Một quầng sáng mờ lan dưới cát, làm các rãnh hiện rõ. Tạ Duy cúi gần hơn, thấy một vệt bạc mảnh chạy xuống theo bậc địa hình, dồn ở cửa mương anh vừa đặt.
Đường ấy đẹp đến mức anh quên mất mình đang mỏi lưng. Qua cửa mương, vệt bạc lan đều tới các ô ruộng, không đứt ở đoạn dốc. Anh dịch cửa thấp xuống một nấc; phần cuối vẫn được cấp. Nếu ngoài khe cũng thế, vài thanh máng và một đoạn đào ngắn đã có thể giữ nước.
“Thử xong chưa?” Hà Sâm hỏi.
Tạ Duy ngẩng lên. Trán ông lấm tấm mồ hôi. Anh vội gạt chốt kết thúc. Vệt bạc tắt dần, để lại những đường cát xám phải thay trước lượt tiếp.
“Ta cấp được ba lượt đầu,” Hà Sâm nói, uống một ngụm trà nguội. “Sau đó mua linh sa nạp sẵn. Đừng nghĩ chỉ cần ngồi đây là có thể thử mãi.”
Tạ Duy gạch một nét vào góc sổ: đã dùng một lượt. Anh lấy túi tiền ra, đếm dưới ánh đèn vừa thắp. Sau khi trừ tiền trọ đã hẹn, anh còn sáu trăm đồng dành cho ăn ở và khảo tiếp. Không nhiều, nhưng chưa đến mức phải ôm khay trả lại ngay.
“Một lượt linh sa hết bao nhiêu?”
Hà Sâm chỉ cho anh chỗ mua theo lượng cần dùng, rồi bảo phải hỏi cả ngày nạp. Tạ Duy ghi địa chỉ cửa hàng bên dưới dấu đã dùng một lượt. Anh dọn lớp vật liệu đã hao vào túi riêng.
Đến lúc định chép phương án cửa thấp, anh nhìn thấy tờ giấy vạch ẩm nằm bên chén trà. Vạch xiên ấy cao hơn đường duy nhất anh vừa nhập vào khay.
Tạ Duy kéo hai trang tới cạnh nhau. Trong sa bàn, dòng chảy tới đầu mương rất thuận. Ngoài khe, nước đã để lại một dấu ở nơi bản số không có đường nào đi qua. Anh lật lại phần nguồn: tất cả số dùng cho lượt vừa rồi đều lấy buổi sáng hoặc chép từ bản cũ.
“Có thể vạch ấy chẳng liên quan,” anh nói.
“Có thể.” Hà Sâm không đưa tay sửa khay.
Tạ Duy cầm bút, cuối cùng không chép chữ khả thi lên bản vẽ. Anh ghi kết quả của lượt thử, bên dưới thêm vị trí vạch ẩm chưa giải thích được. Hai dòng nằm cạnh nhau, khó coi hơn một phương án sạch sẽ.
Hà Sâm đứng dậy mở cửa cho anh. Bên ngoài đã tối, lối xuống khe chỉ còn một dải nhợt nhạt dưới trăng. Tạ Duy buộc khay vào tấm vải dày, nhưng xin để lại trong nhà ông qua đêm.
“Sáng mai ta lấy mẫu trước,” anh nói. “Còn hai lượt, dùng lúc có thêm số.”
Ông đẩy chiếc bàn một cái để thử chân mới. Mặt bàn không nghiêng nữa.
“Nhớ ghi giờ.”