Sáng ngày mười lăm, người coi kho xưởng đứng chắn trước cửa, nghe Tạ Duy nói hết rồi mới nhìn tờ giấy trong tay anh.
“Giấy ấy cho ngươi tới bờ. Sàn này ai trả nếu dỡ lên?”
Tạ Duy cuộn giấy lại. Mốc trên bản cũ nằm gần góc trong, nơi những chồng bao đã kê quá đầu gối. Muốn tới đó phải chuyển hàng, nhấc một phần sàn; đứng ngoài cửa nhìn vào chẳng thể xác nhận viên đá dưới ấy còn nguyên.
Người coi kho chỉ chỗ nước mưa chảy ngược qua ngưỡng. Nền ngoài cửa võng xuống từ trước, xe đẩy qua thường giật một cái khiến bao nghiêng. Ông từng nhờ thợ sửa, nhưng tới lượt hàng bận lại bỏ dở. Nếu Tạ Duy lo san chỗ ấy trong ngày kho ngừng nhận hàng, ông sẽ cho mở góc sàn để đo.
Anh cúi xem. Phần cần sửa chỉ dài hơn một thân người, phía dưới là rãnh nông bị đất và mảnh gốm chặn. Anh có thể vét rãnh, kê lại mặt ngoài bằng đá cũ của kho; chỗ chân cột bên trong phải giữ nguyên. Anh nói rõ mình nhận phần nào, không nhận chống cả mái nếu nhấc sàn thấy cột mục.
“Đá và người chuyển bao của kho,” anh đề nghị. “Ta làm một ngày, đổi hai lượt xem mốc, hôm nay và sáng mai. Phần nhấc lên phải trả lại trước khi mở hàng.”
Người coi kho lấy than đánh dấu giới hạn sửa, gọi hai người chuyển bao tới. Tạ Duy chép điều vừa nhận vào mép giấy. Ông nhìn một lượt rồi để anh bước qua cửa.
Vệt võng sâu hơn khi bỏ tấm ván phủ. Đất ướt bết dưới bàn tay, một mảnh gốm lớn nằm ngang miệng rãnh. Tạ Duy bẩy nó ra, nước đọng bắt đầu rút về phía bến. Anh không kê đá ngay mà chờ, vét tiếp phần bùn giữ nước. Đến trưa mới có thể đặt lại mặt đi mà không bị bùn trồi qua khe.
Người coi kho đem cơm ra cửa, tính vào phần đổi công đã nhận. Ăn xong, Tạ Duy theo ông vào góc được mở. Dưới hai tấm sàn là một viên đá có vạch chéo, bên cạnh có vết đục ngắn. Anh mừng vì thấy đúng dạng ký hiệu trên bản, rồi nhận ra mặt vạch đang nghiêng về chân cột.
Nếu lấy ngay nó làm chuẩn, các mức quanh kho sẽ cùng thấp đi.
Anh đặt thước bên cạnh, đo tới cạnh tường và đánh một dấu tạm ở chỗ người coi kho cho phép. Viên đá nằm trên đất chèn, không liền với vỉa đá dưới bờ như anh từng nghĩ khi đọc bản. Nó có thể đã bị xê lúc dựng kho, cũng có thể bản sao dùng một điểm bên cạnh mà người chép đã nối nhầm. Chưa cách nào phân được ngay tại đây.
Người coi kho hỏi có phải tìm được mốc giả không.
“Có một mốc chưa dùng làm chuẩn được,” Tạ Duy đáp. “Ta cần nối ra đá ngoài bờ.”
Ông bớt sốt ruột khi anh không yêu cầu đào sâu thêm. Tạ Duy đi dây từ góc sàn ra cửa, rồi vòng xuống mốc ngoài đã đối cùng Lê Trác. Chặng ngắn anh tự đọc hai lượt ngược chiều, dùng dụng cụ còn trong hạn mượn. Người coi kho giữ đầu dây ở cửa, nghe số rồi nhắc lại để anh chép; ông không phải chịu phần kết luận chỉ vì đã giúp cầm dây.
Hai lượt đều cho thấy vạch dưới kho không khớp mức cũ. Nhưng mặt đá có vết kê và nền quanh nó từng được lấp, thành ra độ chênh ấy chưa thể dùng chứng minh đất vừa dịch trong tháng này. Tạ Duy gạch đường nối mình định giữ, để cạnh nó một hàng số mới và điều kiện đo.
Chiều muộn, anh kê xong cửa. Người coi kho đẩy thử chiếc xe không hàng, bánh qua ngưỡng không còn giật. Ông nhận phần sửa, cho giữ góc sàn mở tới buổi đo sáng sau. Tạ Duy rửa bùn ở bến rồi mới về ghép bản, hai cánh tay mỏi tới mức cầm bút cũng chậm.
Sáng mười sáu, số đo lại không lệch khỏi hôm trước. Anh trả sàn, nhận giấy xác nhận phần đã mở, rồi đem cả hai bộ mức tới Mạch ty. Trong bộ giao có hiện trạng hai hành lang, nhà và lối dùng đất, những cao độ đã nối được, cùng các chỗ còn cần khảo nền. Mốc dưới kho được ghi riêng, không lấy tuổi của bản thay cho độ tin cậy.
Lương Cảnh dừng ở khoảng trắng ấy khá lâu.
“Vậy ngày hai mươi ba ngươi so với đâu?”
Tạ Duy chỉ mốc đá ngoài bờ và các cọc đã đối, nói mình sẽ giữ cùng đường nối, còn viên dưới kho chỉ là điểm kiểm phụ. Anh không đem lời người thợ gọt khuôn vào bộ giao. Những dấu tự đo đã đủ giải thích vì sao phải chờ thêm.
Bộ sơ bộ được nhận đủ phạm vi. Anh trả dụng cụ, đối xong phiếu kho rồi mới nhận một trăm đồng cuối. Mười lăm đồng ăn nghỉ đã trả cho những ngày vừa qua khiến tiền đang giữ từ một trăm mười lăm còn một trăm; nhận khoản cuối, anh có hai trăm để lo phần tiếp.
Ra khỏi Mạch ty, Tạ Duy không mang theo thước mượn nữa. Anh chỉ còn thước tay, dây và những cọc thuộc mình, nhưng khoảng trắng trên bản đã rõ hơn: có chỗ phải đo tiếp, có chỗ phải hỏi quyền vào, và có một đường cũ anh vừa thôi coi là đúng sẵn.