Ninh Vũ đang kiểm nắp bể khi Tạ Duy đem bản vẽ mới xuống. Nàng liếc đường bút chì bị gạch trên trang cũ, hỏi anh còn định đặt cửa ở chỗ đã chỉ hôm trước không.
“Không. Chỗ ấy nhận được nước sáng, nhưng chiều không đều.”
“Hôm trước ngươi bảo đào một đoạn ngắn là tới.”
Tạ Duy nhớ mình đã nói thế, còn dùng tay chỉ qua bờ đá để người đứng cạnh dễ hình dung. Anh mở trang ghi suốt ngày hôm qua. Những dấu giờ chen với số vò nước, trông rối hơn bản phác đầu tiên nhiều.
“Ta nói sớm quá. Phải lấy đường khác, chờ dòng muộn rồi mới tính giờ mở.”
Ninh Vũ đọc phần anh đặt cạnh hai kết quả thử. Nàng không bắt anh nhắc lại lời nhận sai, chỉ dùng đầu bút chỉ lối đi trên bờ.
“Đường khác thì đo cả chỗ này. Khi người ta gánh nước về, không thể bày máng chắn ngang.”
Tạ Duy chuyển nét tuyến ra ngoài mép đường. Trước khi đi, anh lấy hai mươi đồng mua lương khô cho mấy ngày tới, gói riêng từng phần trong túi vải. Đêm qua anh đã ăn nốt phần mang từ chỗ trọ. Nếu cứ nhìn con số ba trăm trong sổ mà quên những bữa tiếp theo, đến lúc thuê thợ anh sẽ chẳng biết còn bao nhiêu tiền thật.
Anh đi từ vạch ẩm men theo sườn thấp, chọn những điểm có thể đặt máng mà không lấp lối. Ở mỗi mốc, anh đo cao độ và lấy chút đất đúng nơi dự định đi qua. Các hộp đã được Hà Sâm hướng dẫn rửa sạch, phơi khô từ sáng; anh giữ mẫu nước hôm trước trong lọ riêng, không đổ đi để lấy chỗ.
Mặt đất ở hai đầu tuyến khá giống nhau. Lớp đất nâu mỏng phủ trên đá, bốc lên có hạt cứng lẫn trong lòng tay. Khoảng giữa là bờ hoang sát ruộng. Muốn dò sâu, anh phải có dụng cụ khác và hỏi người giữ đất trước. Tạ Duy cắm hai cọc nhỏ ở ngoài mép, đo khoảng cách rồi để trống phần mẫu giữa.
Chiều, anh mang tất cả về nhà Hà Sâm. Ông đẩy chiếc đèn ra xa, tận dụng ánh cửa sổ để nhìn nhãn từng hộp. Tạ Duy đặt bản tuyến mới lên bàn, giải thích giờ nước tới và vị trí cửa dự định.
Hà Sâm nghe xong, hỏi đúng vào khoảng anh chưa lấy được mẫu.
“Ở đây dùng gì?”
“Ta cho nối theo hai đầu. Cao độ đã đo, đất mặt cũng tương tự.”
“Bên dưới?”
“Chưa dò.”
Hà Sâm đặt hai ngón tay cách nhau trên bản phác. Khoảng cách ấy trên giấy chỉ bằng chiều dài một đốt tay, ngoài bờ lại đủ cho mấy người đứng nối tiếp.
“Vậy ghi rõ. Khay chạy theo đường ngươi đặt. Nó không xuống đó hộ ngươi.”
Tạ Duy kéo bút qua mép đoạn giữa, đổi nét liền thành nét đứt. Anh vẫn muốn dùng lượt thứ ba để xem cửa mới có hợp với giờ nước đã đo không. Nếu cả phần ấy cũng không được, anh khỏi thuê người làm máng ngày mai. Hà Sâm đồng ý, nhưng bảo anh giữ riêng kết quả về đường đi với kết quả về đất chịu nước.
Lần này vệt bạc xuống muộn, qua cửa nhỏ rồi lan tới phần ruộng mẫu khi lượt nước mặt đã yếu đi. Nó không đẹp đều như lần đầu, nhưng phù hợp hơn với những giờ anh đứng chờ dưới vách. Tạ Duy ghi mức dự kiến thấp xuống, dành khoảng trống để chép số ngoài đất bên cạnh.
Hà Sâm ngắt linh lực. Ông xoa cổ tay, bảo anh từ lượt sau phải tự lo linh sa. Tạ Duy gạch hết ba ô đã kẻ trong sổ. Anh chưa mua thêm; trong đầu lúc này là hai cọc ngoài bờ và hạn trả bể vào tối mai.
Trên đường xuống, anh ghé hỏi hai người thợ có thể nhận nửa ngày dựng đoạn máng thử. Mỗi người đòi sáu mươi đồng, công được trả dù có nước tới hay không. Họ không nhận lời hứa trả sau vụ tưới. Tạ Duy đồng ý, ghi một trăm hai mươi đồng phải giữ lại, rồi đưa bản tuyến cho họ nhìn.
Một người hỏi đoạn nét đứt có cần đào không. Anh đáp chưa, trước mắt chỉ muốn cho một ít nước qua máng và quan sát chỗ tiếp đất. Nói xong anh vẫn thấy mình đang lựa cách để kịp hạn bể. Anh hẹn sáng mai bàn lại với Ninh Vũ trước khi động tay.
Hai hộ có ruộng gần tuyến xin xem bản phác. Nghe phải mua ván làm máng, họ góp mỗi nhà hai mươi đồng, chỉ dùng cho số ván ấy. Tạ Duy ghi vị trí ruộng của từng hộ cùng khoản góp, mua đủ bốn mươi đồng ván rồi đem phiếu lại. Không ai nhận lời góp tiếp nếu ngày mai không được.
Khi về bãi bể, anh đặt những thanh ván vào chỗ khô. Mực nét đứt trên bản vẽ đã ráo. Tạ Duy kéo tờ giấy khỏi dưới đá chặn, viết thêm phía cuối: chưa dò phần dưới đất giữa hai mốc. Sáng mai người tới làm phải nhìn thấy dòng ấy trước khi nhận dụng cụ.