Nước yếu từ phía trên cửa lấy, không phải từ đoạn máng mới.
Ninh Vũ kiểm xong cữ, giữ nó ở dấu thấp rồi đi cùng Tạ Duy ngược khe. Tới chỗ vạch ẩm, dòng rịn vẫn còn. Anh đứng nhìn đường nhập phía sau bụi cỏ, chưa hiểu vì sao lượng xuống dưới giảm nhiều đến thế. Một người vừa đặt đòn gánh bên máng nghe anh hỏi giờ nước yếu, liền chỉ lên lối đá.
“Giờ cối chạy thì thường thế. Đợi nó trả về đã.”
Tạ Duy quay lại nhìn người ấy.
“Cối nào?”
“Trên nhánh kia. Xế nào không sửa cũng giã. Ngươi không nghe à?”
Anh lắng tai. Qua tiếng nước sát vách có tiếng chày gõ thưa, lúc xa lúc gần theo gió. Những ngày trước anh đã ở dưới máng từ sáng tới chiều, ghi số vò và dòng ấm muộn; anh chưa đi khỏi vòng người gánh nước để tìm tiếng ấy từ đâu.
Người kia chỉ lối rẽ sau bờ đá, dặn họ đừng bước qua máng tre cũ. Đi thêm một quãng, Tạ Duy thấy bánh nước quay bên căn nhà thấp. Một nhánh được dẫn qua máng vào bánh, rồi nước trả xuống rãnh thấp khuất sau nền. Cối giã trong nhà nhấc chày theo từng vòng, người vận hành đang gạt hạt khỏi thành cối bằng một chiếc xẻng gỗ.
Tạ Duy chờ chày dừng mới bước tới giới thiệu. Anh đưa bản ruộng ra hỏi đường nước. Người vận hành nhìn một lúc, chỉ ngón tay vào phần giấy trắng phía ngoài những thửa bậc.
“Nhà cối ở đây. Còn rãnh trả đi vòng bên này. Giấy ngươi không có.”
Anh ghi thêm, rồi đi theo rãnh cùng Ninh Vũ. Nước từ cối không biến mất hẳn, nhưng trở lại dưới một chỗ thấp hơn và muộn hơn đoạn họ đang lấy. Trong thời gian bánh quay, giữ mức mở cũ ở mương sẽ làm phần cuối đợi lâu, còn nâng để tranh ngay đầu lấy có thể làm cối thiếu.
“Có thể đổi giờ giã không?” Tạ Duy hỏi khi quay lại.
Người vận hành chỉ những bao xếp dọc vách. Có bao của nhà phải đem về nấu tối, có bao chờ từ sáng vì người gửi còn đi ruộng. Cối không chạy suốt ngày, nhưng cũng không phải thích dời lúc nào thì dời. Nếu nhường hết buổi xế, người đứng đây phải làm đêm, còn nhà chờ lấy hạt cũng phải đợi.
Tạ Duy cất đề nghị vừa định nói. Anh đã giữ phần nhà cuối bằng cách bớt ở đầu; không thể tới đây rồi gọi sinh kế này là phần thừa trên đường nước.
“Vậy ta ghi đúng khoảng cối cần trước. Mương sẽ ngắt trong lúc ấy.”
“Ngắt rồi lại lấy hết nước trả thì sao?”
Ninh Vũ hỏi người vận hành chỉ dấu nào cho biết cối đã đủ nước, chỗ nào dễ nghẹt. Nàng cùng ông ra bờ, thử nhìn cả lúc bánh quay và lúc ngừng. Ông lấy cán xẻng chỉ vệt mòn ở thành máng, nơi ngày nào cũng phải gạt lá mắc để bánh khỏi chậm giữa mẻ. Họ thống nhất một dấu ở đầu máng cối, thêm giờ báo khi cần kéo dài vì một mẻ chưa xong. Tạ Duy chép đường trả, không chỉ tên căn nhà vào góc giấy cho đủ.
Khi họ xuống lại, ba hộ ruộng đã chờ. Nhà đầu muốn mở cao trước giờ cối để bù, nhà cuối sợ cứ ngắt rồi mình sẽ mất lượt. Tạ Duy trải bản mới, nói rõ chuyện đã bỏ sót. Anh gạch giờ cối chạy khỏi giờ mương có thể nhận, không tính phần ấy cho nhà cuối rồi bảo họ tự chờ nước tới.
Họ bàn lại thứ tự ngay trong buổi chiều ấy. Mương nhận nước trước khoảng cối cần; khi cối mở, Ninh Vũ đóng đầu mương, trả ưu tiên về nhánh cũ. Sau khi cối ngừng, chỉ mở lại khi dấu lượng tới ở cửa lấy trở về mức đã định, không căn vào tiếng chày im mà đoán nước đã tới. Nhà cuối nhận lượt tiếp đầu tiên, hai nhà trên không mở chèn trong quãng nước đang tới.
Chủ bờ cuối đem dấu mức của mình ra so, nhận thử lịch mới vì lượt của ông được tính từ lúc nước thật chạm cửa. Người vận hành cối xuống xem, nói nếu phải đổi giờ sẽ báo trước, không tự lấy một ca ruộng đang được hẹn. Không ai được hứa có thêm nước; họ chỉ nhận những khoảng dòng đủ dùng riêng, cùng quyền báo thiếu.
Tối ngày mười bảy, Tạ Duy ghi giờ bắt đầu chế độ mới. Ninh Vũ giữ bản ở cửa nguồn, mỗi nhà giữ phần lượt của mình, cối có bản đường trả và giờ báo. Bảy ngày quan sát được tính từ tối ấy tới tối ngày hai mươi bốn, không lấy cả buổi mở chưa đúng lịch ban sáng cộng vào cho tròn.
Lượt cuối tối đó tới chậm nhưng đủ qua dấu thấp. Tạ Duy ngồi bên bờ chờ người giữ cửa báo rồi mới thu giấy. Phía trên, nhà cối đã tắt đèn; những bao hạt cuối được gánh xuống cùng lối anh vừa đi. Anh nhường đường, nhìn trang bản ruộng nay phải ghép thêm một mảnh giấy ở mép để vẽ hết rãnh trả.