Hai khay địa phương giữ nước qua đêm trên chiếc bàn kê ngoài bể.
Sáng ngày hai mươi ba tháng hai, Tạ Duy lau mặt dưới bằng vải khô, rồi đưa người thợ xem. Không có vệt ướt xuyên qua đáy; các góc và mép ghép còn nguyên. Người thợ thở ra, đưa ngón tay gõ nhẹ thành khay, nói nếu chỉ cần làm lòng chứa nước thì lò mình nhận được.
Tạ Duy cũng muốn gật đầu ngay. Năm mươi đồng tiền mẫu đã đổi thành một thứ có thể làm ở Bạch Tảo, không cần chờ người chở gốm xa. Nhưng bể sẽ nhận nước có dòng tức, và phần ấy còn chưa được thử trên bàn.
Anh tới thuê thước đo dẫn của đội khảo Hà Sâm giữ. Dụng cụ có hai đầu đọc và những ống nạp riêng, dùng đối chênh qua một đoạn vật liệu nhỏ. Hà Sâm nhận năm mươi đồng cho bốn buổi ngắn tới ngày năm tháng ba, gồm bốn ống nạp sẵn đúng lượng của thước. Mỗi buổi dùng một ống rồi trả vỏ, không lấy phần nạp ấy sang khay sa bàn.
Ông kiểm đầu đọc trước mặt anh, chỉ cách đặt và trả mức gốc khi đổi vị trí. Tạ Duy thử trên mảnh đối chiếu của dụng cụ, đọc lại tới khi hai bên cùng thấy đúng. Cảm giác mới tập trong người giúp anh chú ý tới chênh nhỏ, còn số giao cho người dùng phải đi qua thứ họ có thể cùng nhìn này.
Chủ giếng nhận cho thử hai khay trên giá khô, nước lấy đúng phần đã mang tới kiểm mẫu, không mở lại nhánh bể đất. Ninh Vũ chọn một chỗ có thể hứng hết lượng ra, chừa lối giếng như cũ. Người thợ đứng cạnh giữ giấy ghi nguồn đất và ngày nung, tự đánh dấu khay nào mình đã bo góc.
Lượt đầu, Tạ Duy đặt dòng đi qua khay góc vuông. Nước chạy tới đầu ra khá đều, dưới đáy vẫn khô. Nhưng đầu đọc phía sau lên chậm, trong khi chạm gần góc lại thấy mức giữ cao hơn phần giữa. Anh nhấc tay, kiểm dây và đặt lại. Chênh ấy còn.
Người thợ hỏi có phải vì góc đặt trên bàn thấp hơn. Tạ Duy cùng ông kê ngang lại, đổi hai đầu đọc, thử trên mảnh chuẩn rồi mới trở về khay. Ở chỗ khác trên giá, phần dồn vẫn theo góc của chính nó, không theo phía bàn.
Khay bo góc làm mức giữ bớt gắt, nhưng chưa đưa được phần dòng tới cuối như vật đối chiếu. Tạ Duy để người thợ tự xem kim sau khi anh buông tay. Mặt nước trong, chiếc khay đẹp, cái sai nằm ở thứ người nhìn bằng mắt thường dễ bỏ qua.
Tới lúc khóa đầu cấp, phần ở góc vẫn giữ thêm một quãng rồi mới nhả chậm sang phía ra. Người thợ nhìn theo đầu kim, tự hỏi nếu nối nhiều tấm thì phần trễ có dồn lên nhau không. Tạ Duy ghi câu hỏi ấy bên cạnh lượt vừa đo. Anh chưa có cả dãy tấm để trả lời, nhưng một khay đã cho họ lý do để dừng trước khi đặt cả lô xuống bể.
“Thêm một lớp men có hết không?” ông hỏi.
“Phải làm mẫu khác mới biết. Hai cái hôm nay chưa nhận làm đáy tưới được.”
Người thợ im lặng một lúc rồi kéo bản giấy về, nhìn dòng ghi lượng nước giữ qua đêm. Ông đã có người hỏi mua loại khay nhỏ để nối máng; nếu Tạ Duy chỉ xác nhận giữ nước, khách có thể tưởng phần dùng cho mương cũng đã qua hết phép đo.
Tạ Duy đề nghị ghi tách ngay trên phiếu: hai mẫu này giữ được nước trong đêm đã thử, dòng tức qua góc chưa đạt. Chúng có thể làm vật chứa nước sinh hoạt theo phần đã xem, không đem dấu của buổi ấy bán như vật liệu tưới linh thảo. Người thợ đặt phiếu xuống, hỏi như vậy có phải vẫn dùng được lò và đất của mình không.
“Có. Chỉ việc khác nhau. Ta không muốn tới ngày dựng cả đáy rồi mới trả ông mẫu này.”
Ông cầm khay lên nhìn góc, lấy than đánh một dấu cạnh chân. Ông nhận giữ một cái để thử cách làm sau, còn cái kia Tạ Duy mang về đối. Tiền làm mẫu đã trả đủ, không có lời hẹn lô lớn để đẩy tổn thất hôm nay sang lần bán chưa có.
Ở bên giếng, chủ đất nghe kết quả thì hỏi bao giờ tháo bể cũ. Tạ Duy đưa bản chênh cho ông xem, giữ hạn đã nhận tới ngày năm tháng ba. Anh còn phải tìm lớp lòng chịu dòng hoặc cấu trúc khác; lớp gốm rẻ giữ được nước chưa đủ cho chiếc bể định dùng ở đây. Bể đất vẫn khóa, một dải mạ đối chiếu tiếp tục nhận theo phần chủ ruộng giữ, chưa sống nhờ một vật liệu được tuyên bố tốt sớm.
Tới chiều, ống nạp của buổi đầu đã hết. Tạ Duy thu đầu đọc, lau khô trước khi trả vỏ cho Hà Sâm, ghi còn ba buổi trong hợp đồng. Trong túi còn sáu mươi đồng. Một lần thử nữa có thể đổi cách bo hoặc lớp mặt, nhưng mỗi mẫu mới lại cần ngày nung, tiền và quyền giữ chỗ thử lâu hơn.
Trên đường về, anh dừng ở nhánh cối. Người vận hành đang gỡ một mảnh gốm cũ khỏi chỗ kê máng, mặt trong có lớp nước đi qua lâu ngày vẫn đều. Tạ Duy nhớ lời Hà Sâm về vật liệu chịu dòng và lời mình đã nhận đưa phần sửa máng vào việc bàn. Anh đợi hết tiếng chày mới bước tới hỏi mảnh ấy thuộc loại nào, lần này mang theo cả bản mẫu thất bại để người ta xem trước.