Đến giữa buổi ngày thứ mười ba, dấu mức ở cuối khoảnh cao hơn lần Tạ Duy đọc trước bình minh.
Anh nhìn mặt nước, rồi cúi xuống nhìn chân cọc. Nếu theo con số mới, nước đã mất nhanh hơn anh vừa báo với chủ ruộng. Nhưng bờ đất sát bên vẫn ướt tới vệt cũ, không có rãnh nào mới chảy ra ngoài. Anh đổi chỗ đứng, đặt thước đọc lại, kết quả vẫn lệch.
Người đàn bà đứng cạnh hỏi có phải ban sáng anh nhìn nhầm không. Tạ Duy mở sổ, chỉ dòng giờ đo trước, rồi dừng. Anh nhớ mình đã đứng ở đâu, nhưng một ký ức rõ ràng không làm chiếc cọc trở lại đúng mức.
“Ta chưa biết. Đừng lấy số này tính lượng mất vội.”
Bà kéo vạt áo lên khỏi bùn, nhìn phần ruộng chưa được thử. Anh nghe tiếng thở dài, biết mình lại đang xin thêm chờ đợi. Lần này anh không thể giải quyết bằng việc múc bù một thùng để mặt nước trông như cũ.
Tạ Duy gọi Ninh Vũ, cùng nàng kiểm các dấu quanh khoảnh. Mốc ở cữ cửa còn nguyên. Vệt trên tấm gỗ phía bờ kia cũng phù hợp buổi sớm. Chỉ chiếc cọc cuối có phần đất quanh chân tơi ra, vết giày nhỏ đè lên mép lỗ.
Đúng lúc ấy, một con dê thò đầu qua bụi cỏ, kéo sợi dây vướng trên cọc. Thằng bé chăn dê chạy theo, tay cầm một đoạn gỗ có đầu nhọn. Nó thấy người lớn quay lại thì đứng sững.
“Cọc kia có phải của ngươi không?” Tạ Duy hỏi.
Thằng bé nhìn xuống tay, rồi chỉ chiếc cọc cuối khoảnh.
“Ta lấy buộc con dê. Lúc sau đã cắm lại rồi.”
Tạ Duy bước tới, ngồi xuống cho ngang tầm nó. Đoạn gỗ trong tay thằng bé là một cọc bỏ từ buổi nghe đất, còn chiếc nó đã cắm lại mới có vạch đo nước. Với nó, hai thứ đều là gỗ nhọn nằm trên một bờ ruộng.
“Ngươi cắm lại lúc nào?”
“Sau khi trời sáng. Dê cứ xuống bờ, ta kéo lên.”
Anh hỏi nó chỉ chỗ buộc, không bảo nó nhớ cọc sâu bao nhiêu. Nó dùng mũi chân vạch một vòng, đúng chỗ đất tơi. Tạ Duy cảm ơn rồi nhờ nó giữ dê ngoài lối, để họ kiểm lại. Thằng bé đi được mấy bước còn quay đầu xem anh có định giữ cọc trong tay nó không.
Ninh Vũ tháo sợi dây vướng, cuộn gọn sang bên. Nàng không cắm chiếc cọc bị nhổ về mức cũ theo trí nhớ. Tạ Duy cũng gạch dòng số vừa đọc, ghi bên cạnh lý do. Phần quan sát từ trước bình minh vẫn còn căn cứ ở hai dấu khác; khoảng sau lúc cọc bị dời phải bỏ cách so cũ, không nối liền như chẳng có chuyện gì.
“Làm mương xong cũng thế này sao?” chủ ruộng hỏi. “Mỗi lần dê tới lại đo từ đầu?”
Tạ Duy nhìn lối mòn chạy ngang bờ. Họ đã tránh không đặt mốc giữa đường người gánh nước, lại chọn đúng chỗ dê thường xuống. Mấy cọc dựng cho một đêm vẫn sẽ ở đây lâu hơn nếu mương thành. Anh đã nghĩ tới việc đọc chúng, chưa hỏi người đi qua nhìn thấy gì.
Anh xin bà chỉ nơi có thể giữ mốc mà không chắn lối. Bà chọn viên đá liền cạnh bờ, chỗ từ sân nhà nhìn xuống được. Ninh Vũ đề nghị thêm một dấu đối ở phía cửa, để mất một chỗ vẫn biết phải dừng so hay đo lại. Hai dấu không được đặt trên cùng thanh gỗ có thể bị nhấc một lần.
Họ chuyển mức từ mốc còn nguyên sang đá bằng dây, đọc cho nhau nghe trước khi vạch. Tạ Duy dùng đầu sắt khía dấu nông, bôi chút đất màu sẫm cho dễ thấy. Chủ ruộng thử đọc một lần từ chỗ đứng bên nhà mình, bảo dấu thấp cần bôi đậm hơn. Anh sửa lại tới khi bà nhìn rõ. Bà nhận để một miếng gỗ báo bên ngoài, không dùng làm vật buộc dê. Thằng bé đứng xa nghe, sau đó đem đoạn cọc bỏ của mình ra hỏi chỗ nào được cắm.
Tạ Duy chỉ bãi khô ngoài mương, cùng nó buộc lại dây ở đó. Anh không muốn sự yên ổn của mốc đo phụ thuộc vào việc đứa trẻ nhớ tránh một nơi vốn ngày nào cũng đi qua.
Chiều, người góp ván tới xem. Tạ Duy đưa ông cả trang có dòng bị gạch. Khoảnh giữ được nước qua đêm vẫn là kết quả nhỏ của nó; buổi đo lệch không được đem nối thành một ngày tốt đẹp hơn. Ông xem dấu đá mới, bảo nếu làm tiếp thì ghi vị trí để người khác cũng tìm được, đừng chỉ Tạ Duy biết.
Anh chép một bản để lại nhà chủ ruộng, vẽ cả lối đi và hòn đá cạnh dấu. Lúc cất sổ, anh nghe tiếng dê kêu từ bãi ngoài. Chiếc cọc cuối nằm ngang bên chân, bẩn bùn và chẳng có gì đặc biệt. Tạ Duy rửa nó, gói vào bó dụng cụ thay vì cắm lại cho đủ ba chỗ. Dòng số đã mất căn cứ buổi sáng vẫn để nguyên vết gạch trên trang.