Đến trưa ngày thứ năm, đoạn máng thử đã nằm trên giá gỗ. Phía dưới nó, hai cọc của Tạ Duy đánh dấu khoảng đất chưa dò. Người thợ lớn tuổi hơn đọc dòng chữ anh để bên ván rồi hỏi nếu chưa biết nền thì có nên đợi không.
Tạ Duy nhìn sang chiếc bể cuối dốc. Tối nay phải trả. Nếu chờ dụng cụ dò tới, anh cần thuê lại bể, giữ thêm tiền công và chưa chắc còn đúng giờ dòng ấm. Trong túi anh chỉ có hai trăm tám mươi đồng, một trăm hai mươi đồng đã hẹn trả hai người đang đứng đây.
“Chỉ thử đoạn này,” anh nói. “Không nối xuống ruộng. Thấy mất nước thì đóng.”
Ninh Vũ cầm bản vẽ, hỏi anh định gọi thế nào là mất. Tạ Duy lấy chiếc gáo, ước lượng lượng sẽ cho qua mỗi lượt, rồi đặt một chậu hứng ở cuối đoạn đất thử. Nước đi vào phải có phần chảy tới đó. Nếu chậu không nhận được nước sau lúc đất mặt đã ướt, họ dừng; không lấy thêm nước để đuổi theo dòng đã mất.
Nàng bảo hai thợ lùi khỏi mép bờ trước khi mở. Tạ Duy kéo dây chắn, chuyển chiếc chậu tới chỗ có thể đứng lấy mà không giẫm lên khoảng giữa hai cọc. Anh đã nghe đầy đủ lời hỏi, nhìn thấy nét đứt, vậy mà khi nhận cái gật đầu thử nhỏ của những người đứng đó, anh vẫn thấy nhẹ đi.
Dòng ấm xuất hiện muộn hơn hôm trước một ít. Họ chờ tới khi lấy được lượng nước đã định vào thùng, rồi mới đặt đầu máng. Ninh Vũ giữ cửa nhỏ; phần nước sinh hoạt vẫn đi theo máng cũ, bể dự phòng còn nắp che. Không ai được lấy nước từ bể đổ vào tuyến thử.
Lượt đầu, nước trải thành một vệt sẫm trên đất. Tạ Duy cúi xuống ngoài dây, nhìn nó tiến qua chỗ lồi rồi chậm lại. Anh ghi thời điểm. Đất khô nhận nước là chuyện bình thường, anh tự nhắc, nhưng vẫn nghe rõ tiếng gáo gõ vào thành thùng ở phía trên.
Lượt thứ hai biến mất nhanh hơn.
Vệt ướt không lan ra phía chậu. Nó tụ ở một khe hẹp giữa hai mảnh đá, xoáy nhẹ rồi rút xuống. Tạ Duy ngừng viết, nhìn chỗ ấy. Người thợ vừa nhích tới đã bị Ninh Vũ giơ tay chặn.
“Đừng đứng lên bờ.”
Một tiếng sỏi chạm đá vọng lên, nhỏ mà rỗng. Tạ Duy chưa kịp ghé gần thì Ninh Vũ đã đóng cửa. Nước còn trong máng chảy nốt xuống, tạo thành một sợi mỏng rồi mất hút ở khe. Chiếc chậu cuối đoạn vẫn khô.
Anh muốn đổ thêm một gáo để nhìn rõ đường rút, ý nghĩ bật ra rất nhanh. Sau đó anh thấy cái gáo đã được nàng đặt ngửa trên nắp thùng.
“Dừng,” Tạ Duy nói với hai người thợ, dù họ đều đã buông tay. “Giữ dây ở đây. Chưa ai bước vào.”
Họ dùng cán gỗ dài gạt lớp đất mỏng từ ngoài mép. Một mảnh đá nhúc nhích, để lộ khoảng tối dưới nó. Tạ Duy nghe tiếng vụn đất rơi một đoạn rồi mới chạm xuống. Phần đá mặt tưởng liền ở đây nằm trên một khoảng rỗng; nước đã lọt qua lớp vỏ ấy thay vì đi tới cuối máng.
Anh lật bản vẽ. Giữa hai mốc, đường mô phỏng vẫn nối đều theo cao độ anh nhập hôm qua. Không có lớp rỗng nào trên giấy, bởi anh chưa đưa nó vào. Đoạn nét đứt hiện giờ nằm ngay dưới ngón tay dính bùn của anh.
“Tháo đầu máng về đường cũ trước,” anh nói.
Ninh Vũ kiểm nước sinh hoạt rồi mới để thợ nhấc giá. Tạ Duy cùng họ chuyển ván sang bãi chắc, giữ nguyên hai cọc và dây chắn. Khoảng hở được phủ bằng tấm gỗ có chặn đá ở ngoài, không lấp để giả rằng chưa từng có chuyện gì. Anh vẽ dấu nguy hiểm lên mặt ván, nhờ người đi qua chỉ cho trẻ tránh lối ấy.
Hai thợ rửa tay ở chỗ nước thừa. Tạ Duy đếm đủ mỗi người sáu mươi đồng, đặt vào lòng bàn tay họ. Một người nhìn chậu khô, bảo hôm khác có việc thì gọi sớm; còn phần bờ này, đừng bảo họ nhận đào khi chưa biết bên dưới tới đâu.
“Ta hiểu. Hôm nay phần đo thiếu là của ta.”
Anh không nói thêm mình đã cố tới mức nào. Người thợ cất tiền, vác dụng cụ về. Ván còn lại được xếp riêng, vì tiền mua chúng là của hai hộ đã góp chứ không phải vật anh có thể tùy ý mang đi.
Trước tối, chủ bể tới nhận lại. Họ múc phần còn dùng được vào vò của các nhà, để bãi khô rồi kéo bể đi. Tạ Duy đứng nhìn vệt tròn ẩm nơi đáy bể vừa nằm. Muốn thử lần nữa, anh sẽ phải thu xếp lại nước dự phòng từ đầu.
Ninh Vũ đưa anh tờ ghi giờ đóng. Anh chép nó cạnh hình khoảng rỗng, kèm lượng nước đã mất và số tiền đã trả. Sáng mai anh phải đưa cả trang này cho những người đã bỏ bốn mươi đồng mua ván. Lần này, họ cần nhìn chiếc chậu không nhận được nước trước khi nghe anh nói tới phương án khác.