Người thợ gọt khuôn hạ giọng khi Tạ Duy hỏi những rễ cây ở mép dãy nhà.
Anh ta vẫn đang làm việc trên chiếc bàn thấp, dao đi chậm dọc một khuôn đất. Ngoài sân có người chuyền phôi, đủ gần để nghe nếu hai người nói lớn. Người thợ bảo Tạ Duy cứ xem chỗ có rễ lộ, đừng ghi mình là người nói đất ở đây từng chạy.
“Ngươi đã thấy nó đổi?”
“Mỗi mùa có chỗ phải chèn lại. Rễ ấy kéo khác trước. Nhưng ngươi nói nền yếu, họ có thể bảo dời nhà cho an toàn rồi làm đường. Nhà có trong sổ hay không, tới lúc dỡ cũng là nhà chúng ta.”
Tạ Duy đặt bản khảo xuống, không mở ngay trang tên người dùng đất. Anh hỏi có thể xem những dấu nào mà không cần người thợ đứng trước người của xưởng kể lại. Người ấy nhìn ra sân, đợi một gánh phôi qua hết mới đứng dậy, dẫn anh theo lối sau.
Ở đầu bờ, một rễ lớn bắc ngang phiến đá. Chỗ bị căng bóng và nhẵn hơn đoạn còn nằm trong đất, bên cạnh có khe hẹp với ít đất vụn mới kẹt. Xa hơn, một nhánh rễ nhỏ cong quanh chốt đá cũ, để lại dấu cọ lệch trên mặt. Chúng không cho Tạ Duy một ngày tháng chính xác, nhưng đặt cạnh dải dòng đổi vừa đo, anh có đủ lý do hỏi thêm về chuyển động của nền.
Anh xin phép đặt thước cạnh, không chặt hay nhấc rễ lên. Người thợ chỉ chỗ được bước, giữ phần bờ mới trám ngoài chân anh. Tạ Duy vẽ đúng các điểm có thể nhìn, đo khoảng tới phiến đá và mốc ngoài lối, ghi bề mặt nào đã mòn, dấu nào mới chỉ nghe kể đổi qua mùa.
Người thợ hỏi nếu bản có chỗ rễ ngay sau nhà mình thì ai chẳng đoán được. Tạ Duy không hứa một điều mình giữ không nổi. Dấu nằm trên bờ, người khác tới cũng có thể nhìn, nhưng lời kể và tên người dẫn sẽ không vào phần công bố. Anh sẽ xin khảo bằng những dấu tự đo, nếu cần dùng thêm lời chứng thì quay lại hỏi phạm vi trước.
“Đừng viết rằng ta nhận đất nhà mình sắp trượt,” người ấy nói.
Tạ Duy đọc lại dòng đang ghi: dấu rễ căng, đất vụn trong khe, vị trí cần so qua những lượt sau. Chưa có tốc độ đất hay biên trượt để ai cầm lên coi như chủ nhà đã nhận kết luận ấy. Người thợ xem rồi mới để anh chép tiếp.
Họ đi thêm tới một mép sân. Người ấy chỉ viên chèn dưới giá phơi, nói từng phải kê lại, nhưng không còn bản mức cũ. Tạ Duy đánh nơi cần kiểm, tách lời ấy khỏi số đã đo; anh không lấy một câu kể biến thành chuỗi mốc đủ cả năm. Đổi lại, người thợ cho giữ một dấu đối ở đá ngoài lối, nơi người đi qua nhìn thấy mà không phải vào sân nhà ai.
Trưa ngày mười bốn, Tạ Duy trở lại kho, nộp phần xin quan trắc thêm với sơ đồ rễ và các điểm đo dẫn ngày mười, mười ba. Tên người chỉ bờ nằm trong ghi chú riêng anh giữ. Bản đề nghị dùng vị trí, dấu vật lý và khoảng cần so, không gọi cả xóm đã làm chứng rằng đường ngắn không thể dựng.
Lương Cảnh xem các điểm, hỏi nếu ghi thêm mà chưa chờ đủ kỳ thì bản ngày mười sáu giao thế nào. Tạ Duy đáp giao đúng phần cao độ, lối và so sánh sơ bộ đã nhận, để rủi ro nền cùng những buổi cần tiếp ở bên cạnh. Anh chưa biết kỳ tức triều, không xin đổi hạn hợp đồng thành tới khi mình tìm đủ điều muốn thấy.
Chủ sự nhận cho quan trắc các mốc ngoài trong hành lang đã khảo tới ngày hai mươi bốn, yêu cầu không đào thêm vào đất nhà thợ và báo trước nơi đặt người. Phí khảo không tự tăng theo hạn ấy. Quyền vào kho lấy bản và dụng cụ vẫn tới ngày mười sáu; muốn xem tiếp phần lưu phải xin riêng, không dùng tờ cho đứng ngoài bờ để mở mọi ngăn tủ.
Tạ Duy nhận giấy, giữ nó cạnh bản rủi ro thay vì tờ dự toán đã nghiêng về đường sườn. Hai tuyến còn phải so bằng chi phí và phần làm được, dấu rễ chưa phải cách thắng hết cuộc bàn. Anh trả mười đồng ăn ở tiếp đợt, số đang giữ còn một trăm mười lăm; một trăm cuối hợp đồng vẫn chờ giao đủ bản sơ bộ ngày mười sáu.
Chiều, anh qua xóm báo phạm vi được đứng, không đưa tên người dẫn lên trước để chứng minh mình có căn cứ. Người thợ gọt khuôn nghe xong, chỉ nhờ anh đặt dây sao đòn gánh phôi còn đi được. Tạ Duy dời cọc một đoạn ngắn, đo nối lại tới mốc đá để giữ đúng vị trí, chấp nhận thêm việc thay vì bắt cả lối làm theo dấu mình vừa cắm.
Lúc thu giấy, anh nhìn bản cũ lấy từ kho mốc. Một điểm đối ở phía dưới được nối qua nơi nay là nền kho xưởng. Muốn kiểm nó, anh còn phải đi hỏi người đang giữ chỗ ấy, không thể lấy tờ giấy vừa được cấp cho đất ngoài làm quyền bước vào mọi mái nhà trên đường.