Đường dẫn tới chỗ có thể đặt bể nhỏ phải đi qua bờ giếng.
Tạ Duy đứng ngoài lối gánh, đặt cuộn dây xuống chờ người đang múc nước lên xong. Giếng nằm ở phần đất thấp sau mấy mái nhà, có bậc đá xuống và một khoảng bằng để đặt vò. Muốn tránh nó, anh phải kê máng qua một dải đất chưa xin được quyền đi; muốn qua đây, anh không thể coi khoảng bằng ấy là bờ hoang.
Người giữ đất quanh giếng nghe anh hỏi liền dẫn tới bậc dưới. Mép đá sẫm vì ngày nào cũng có người bước chân ướt, một chỗ mòn lõm đủ giữ lại nước tràn từ vò.
“Máng ngươi chắn chỗ này thì người xuống phải đi đâu?”
Tạ Duy thu đường dây vừa định căng, chuyển ra ngoài lưng bậc. Người ấy vẫn chưa nhận. Ông hỏi bể có lấy nước trong giếng không, người đứng dưới có phải chờ anh khóa mương mới được múc không, và ai giữ chìa nếu anh đi làm ở nơi khác.
Anh trả lời từng điều, mời Ninh Vũ tới xem cùng. Bể chỉ nhận phần thử nhà giữa nhường trong ca, không múc giếng để bù. Đường nước uống và đường tưới phải tách ở cửa, không đóng lối giếng hay dùng vò uống làm thùng thử. Chủ đất giữ quyền yêu cầu dừng nếu có người không lấy được nước theo lối cũ.
Ninh Vũ đi qua lối với một đòn gánh thật, tránh mép máng anh vừa phác. Tới khúc quay, đầu vò vẫn quệt vào chân giá. Nàng đặt gánh xuống, bảo dời cả giá chứ không yêu cầu người lấy nước đi khéo hơn. Tạ Duy nhấc cọc ra, cùng chủ đất chọn lại vị trí, chừa khoảng quay và chỗ đặt vò cả khi hai người gặp nhau.
Họ chỉ cho phép làm một bể thử nhỏ trên phần đất đã chỉ, tới hết ngày mười sáu như hạn khoảnh khảo. Xong phải tháo hoặc bàn lại, không được tự mở rộng thành nơi trữ chung cả khe. Một người lấy nước hỏi nếu bể rò thì sao. Tạ Duy chỉ đường nước trên mặt và phần bờ sét định đắp, nói sẽ đọc mực giếng trước và sau ca thử, thấy tụt bất thường thì đóng nhánh.
Anh ghi dự đoán của mình bên cạnh: với phần cấp nhỏ và đường mặt tách riêng, bể có thể giữ nước một đêm mà không làm đổi mức lấy ở giếng. Chưa có lần thử ấy, nên dòng này nằm ở chỗ chờ đối chiếu, không phải lời chứng rằng giếng chắc chắn không liên quan.
Ngày mười hai, Tạ Duy đi lấy đất và xem lớp mặt tại chỗ bể. Anh không có bản dò sâu quanh giếng. Những gì nhìn được là lớp đất dẻo, bờ cũ không nứt và một khoảng trũng có thể đắp thấp, không cần đào sâu thêm. Vùng rỗng trên tuyến mương cũ đã được giữ ngoài đường mới, nhưng nó không nói hết bên dưới phần đất này. Anh đánh dấu giới hạn bể, chưa vẽ tầng đáy như một tấm kín trong sổ.
Anh mua ba mươi đồng gạch vụn, đất trám và gỗ làm cữ, nhờ một thợ nhận nửa ngày dựng phần giữ cửa với giá sáu mươi đồng. Phần vận chuyển ngắn và chuẩn bị nền, Tạ Duy tự làm. Người thợ chỉ nhận đúng cửa và bờ đã hẹn, không nhận luôn trách nhiệm mọi lớp đất chưa thấy bên dưới.
Sáng ngày mười ba, bờ thấp được đắp xong. Tạ Duy trả đủ tiền công khi người thợ giao cửa, rồi cùng Ninh Vũ thử ngắt trên đường khô. Cữ có thể buộc đóng riêng, nước phía trên trả về máng cũ; phần bể không phải đi qua vò uống hay bậc giếng. Một rãnh mặt dẫn ra khoảnh thử được chừa để không tháo nước tràn sang lối người gánh.
Người giữ giếng bước qua tấm đậy trên đường dẫn, thử đặt hai vò rồi nhận lối vẫn dùng được. Ông chọn dấu mực ở thành giếng, nhờ một người thường lấy nước đọc cùng trước khi phần thử nhận dòng. Họ ghi cả lúc vừa có người múc, tránh so mức sau một lượt gánh đông với buổi không ai xuống.
Người ấy chỉ sợi dây kéo gàu, bảo có hôm phải thả dài hơn sau lúc mấy nhà cùng lấy, nghỉ một quãng nước lại lên. Nếu Tạ Duy chỉ nhìn một dấu thấp rồi gọi là giếng hỏng, người ở đây cũng không tin. Anh xin ghi luôn các lượt gánh trong buổi thử, để số mực có chuyện đang xảy ra bên cạnh nó, không đứng một mình trên giấy.
Cuối ca nhà giữa, Tạ Duy mới được mở nhánh của mình. Nước men qua cữ, vào bể thành một lớp nông. Anh không lấy thêm để lấp nhanh phần đất đang ngấm, cũng không kéo ca qua giờ nhà cuối. Tới dấu lượng được nhường, Ninh Vũ đóng lại, kiểm nước vẫn đi xuống cửa sau.
Bên giếng, người ta tiếp tục múc theo lối cũ. Không có gì trên mặt đổi ngay khiến Tạ Duy phải dừng. Anh vẫn nhờ giữ số trước và sau, buộc nhánh cấp ở trạng thái đóng khi kết thúc lượt, để bể tự qua một đêm trong lượng vừa nhận.
Khi trời tối, anh ngồi trên bậc khô, nhìn mặt bể phản một mảnh sáng hẹp. Chín mươi đồng đã trả, trong túi còn bảy mươi, và hạn thử chỉ còn mấy ngày. Tạ Duy cất bản dự đoán dưới tấm bọc khô. Sáng mai, việc cần xem không chỉ là bể có nước cho luống mạ hay không; lối giếng sau lưng anh phải còn lấy được nước như lúc những người ở đây đồng ý cho thử.