Sáng ngày thứ chín, Tạ Duy mang thước xuống ruộng, không mang vồ.
Cuộc nói chuyện tối qua đã kéo dài tới lúc phải thắp đèn. Hai nhà đồng ý giữ lại số ván, nhưng ba ngày cho khảo đã hết. Muốn tìm đường mới, anh phải hỏi người giữ từng dải đất. Người có ruộng bên trên nhận cho anh đo bờ nhà mình với một điều kiện: đo luôn thửa ruộng đang tranh lệch ranh với lối đi cũ, để ông biết sửa bờ tới đâu.
Tạ Duy đề nghị đổi một ngày khảo ruộng lấy một buổi công đào sau này. Nếu tuyến không đi được, phần đo vẫn giao đủ, ông không phải bỏ công cho một mương chưa có chỗ làm. Người đàn ông cân nhắc rồi nhận, hẹn công chỉ tới khi mặt trời đứng bóng, không gồm tiền ăn và không nhận đào vào chỗ rỗng.
Anh ghi hẹn xong mới nhận thước cữ nhà ông đem ra. Dụng cụ phải so trước, kẻo đo xong hai bên lại nói lệch vì thước khác nhau. Từ lúc sương chưa tan tới xế, Tạ Duy đi dọc bờ, đặt dây qua những chỗ gấp và chép vị trí từng cọc. Anh không phân xử ai giữ đất nào; bản giao lại có số hiện trạng để hai nhà tự đối chiếu.
Đến khi cất thước, đầu gối quần anh dính cả đất khô lẫn bùn. Người giữ ruộng nhìn trang số, chỉ chỗ bờ ngoài mà anh hỏi từ đầu.
“Đo thì được. Đào phải đưa đường cụ thể, để ta còn biết có mất lối kéo cày không.”
Tạ Duy đi thêm một vòng trên dải đá cao. Tiếng cọc hôm trước gọn và ngắn ở đây; hôm nay anh bổ sung cao độ, nhìn những đoạn đá lộ nối nhau. Một rễ cây chắn dây khiến anh phải đo từ hai phía, tốn thêm lượt quay lại để so số. Anh vẫn để khoảng chưa tiếp cận dưới chân bụi gai trống trên giấy. Không có lý do gọi cả dải chắc chỉ vì vài điểm thuận tai.
Trước khi tới nhà Hà Sâm, anh ghé nơi bán linh sa ông đã chỉ. Người bán cân phần đủ một lượt khay nhỏ, lấy ba mươi đồng, cho xem ngày nạp ghi trên miếng thẻ buộc túi. Tạ Duy chạm thử nút niêm, nhận cả thẻ. Ba mươi đồng không lớn bằng tiền thuê bể, nhưng anh không còn ba lượt nào có thể xin dùng trước rồi tính sau.
Hà Sâm đang ngồi sửa lại nhãn những hộp cũ. Thấy túi linh sa, ông đẩy khay ra giữa bàn cho Tạ Duy tự chuẩn bị. Anh lấy hết đoạn nối phỏng đoán ở tuyến cũ, đặt dấu khoanh vùng rỗng theo kết quả hai ngày nghe cọc. Bên trong vòng khoanh không có đáy được tô kín; độ sâu chỉ ghi một khoảng ở miệng hở đã chạm được.
“Chỗ này để thế nào?” Hà Sâm hỏi, chỉ đoạn dưới bụi gai.
“Chưa có số. Ta không cho đường đi qua.”
Tạ Duy dựng đường vòng lên dải cao, dùng mẫu đất đá lấy tại những điểm có thể tới. Chỉ riêng chiều dài, nó đã hơn phương án cũ một quãng đáng kể. Anh phải nhấc cửa đầu lên, đổi vị trí một giá máng, chừa lối đi giữa hai thửa. Phần ván còn lại không đủ cho mọi đoạn anh muốn kê.
Anh mở túi linh sa, nạp theo cách đã được dạy. Vệt bạc hiện chậm, tới khúc vòng vẫn còn chảy, nhưng phần cuối mỏng hơn lời anh từng hứa khi chỉ nhìn tuyến ngắn. Anh thử giữ mức cửa nhỏ rồi dừng ở một cấu hình, không thay qua nhiều phương án tới khi túi hết. Trên bàn, lớp vật liệu hao được vun ra một bên, cạnh miếng thẻ nguồn vừa mua.
Hà Sâm xem bản mới, hỏi anh có định giảm đường vòng cho bớt thiếu ván không. Tạ Duy nhìn vùng nghi rỗng đã khoanh trên giấy, lắc đầu. Đoạn gần nhất để cắt ngắn vẫn băng qua phần chưa biết. Anh đã trả đủ công cho một chiếc chậu khô; không muốn lại bày nó ở cuối một đường đẹp trên khay.
“Ta sẽ đổi công thêm. Chỗ có thể đào đất thì chưa cần máng gỗ.”
“Vậy hỏi trước khi tính là có công.”
Tạ Duy cuộn bản lại, chỉ giữ những giờ đã hẹn chắc trong sổ. Người được đo ruộng hôm nay nợ một buổi đào theo điều kiện, ngoài ra chưa ai nhận. Anh còn phải ăn, trả người kiểm dốc và mua vật liệu chỗ cửa. Một trăm ba mươi đồng trong túi không thể gọi tất cả việc ấy tới cùng lúc.
Trời tối khi anh xuống bờ cuối. Đường vòng phải qua một dải đất hẹp ở đó mới tới ruộng dự định nhận nước. Chủ đất đang thu dụng cụ, nghe anh hỏi liền bảo sáng mai đem bản tới, cả nhà cần xem nó chắn gì và mang nước cho ai.
Tạ Duy nhận lời. Anh định chỉ đường nước trên giấy, nhưng người ấy đã quay vào đóng cổng vườn. Qua khe cửa, anh thấy một luống giống đặt sát chân bờ. Lúc vẽ ở nhà Hà Sâm, anh chỉ tính chỗ ấy là một đoạn đủ rộng để mương đi qua.