Chủ giếng hỏi khi có chuyện thì gọi ai, Tạ Duy đáp Ninh Vũ đứng ngay cửa sẽ nhận được trước.
Nàng đang xem vị trí xả, nghe vậy liền quay lại.
“Báo để ta đóng thì được. Hỏi vì sao đáy làm giếng tụt, ngươi phải trả lời.”
Tạ Duy ngừng bên bản vẽ. Anh định nói tất nhiên mình vẫn chịu phần bể, rồi nhìn dòng vừa ghi tên nàng ở chỗ người xử lý khi mức giếng đổi. Chỗ ấy chưa phân biệt hành động phải làm ngay với câu hỏi về thiết kế. Nếu có chuyện lần nữa, người gần nhất sẽ bị đứng lại nhận tất cả lời trách trước khi anh kịp tới.
“Cô giữ cửa theo dấu đã nhận,” anh nói. “Ta tới đối số và sửa phần thiết kế. Bản mới ta sẽ để các giả định kèm theo, không nhờ cô ký hộ.”
“Cả lúc ta đóng mà ngươi thấy vẫn còn có thể thử thêm?”
“Đã báo dừng thì dừng. Ta muốn làm khác phải đưa ra cùng mọi người, không bảo cô mở lại ngay.”
Quyền ấy đã có từ trước, Ninh Vũ chỉ nhờ chủ giếng đọc lại chỗ trách nhiệm vừa được làm rõ. Ông nhận, hỏi thêm nếu Tạ Duy đi làm riêng thì có cần đứng chờ hay không. Nàng đáp cửa ngắt vẫn dùng được khi anh vắng; phần trả lời và sửa bể phải có người thiết kế tới, chứ việc ngắt không chờ người ấy về.
Họ xem lại phương án vào sáng ngày hai mươi lăm. Bốn tấm gốm của cối quyết định lòng bể rộng tới đâu. Tạ Duy sửa khung cho vừa mép nguyên, dùng cữ ép và vật trám có thể gỡ, giữ chỗ để nhấc từng tấm lên xem. Chủ cối tới nhìn dấu nguồn còn nguyên, nhận cách đặt ấy không làm mất quyền lấy lại vật liệu vào hạn đã hẹn.
Giữa đáy với nền có khoảng nhìn, lớp kê đặt trên những điểm chắc đã kiểm, không đè xuống phần bờ đất ướt cũ. Cửa xả đi riêng tới chỗ hứng ngoài lối giếng, có thể mở khi đầu cấp đã buộc đóng. Ninh Vũ bước vào điểm đứng, thử với tay ngắt rồi yêu cầu chuyển một thanh ngang đang cản khuỷu. Tạ Duy dời nó trước khi thợ tới.
Ba nhà bàn tiền lắp. Nhà đầu hỏi vì sao còn phải trả sau những phần công đã làm, chủ bờ cuối đáp lần này cần người ghép gốm, không thể lấy hai buổi cuốc đất tính là đã thuê đủ. Cuối cùng mỗi nhà tự nhận mười lăm đồng, tổng bốn mươi lăm cho một buổi lắp và kiểm khe nối. Người thợ nhận đúng phần ấy; tiền được ba nhà đưa khi giao xong, Tạ Duy không trộn vào túi riêng đang giữ bốn mươi đồng.
Tới trưa, anh cùng người nhà dọn nền khô và chuyển vật liệu tới sát chỗ lắp. Buổi chiều, anh lên cối theo hẹn đo thứ nhất. Chủ cối đã đánh dấu hai đoạn rò, nhưng chờ hết mẻ mới ngắt. Tạ Duy dùng khoảng nghỉ đo lòng máng và hai chân kê, ghi nơi phải giữ nguyên để bánh nước không bị đổi mức.
Anh về khi trời đã tối, hai bàn tay còn dính bụi cối. Trang dẫn tức nằm trong túi suốt chiều, chưa mở. Đo xong một buổi cũng không trả hết nghĩa vụ; bản còn thiếu đoạn trên sẽ làm ngày mai, còn đặt nguồn và chở vật liệu là việc của những đợt sau.
Sáng ngày hai mươi sáu, thợ ghép bốn tấm lên khung. Tạ Duy đỡ từng mép theo cách chủ cối dặn, để lớp trám vào khe chứ không chèn gốm tới mức phải cắt mới tháo được. Ninh Vũ cùng chủ giếng xem đường xả khô trước khi nhận cữ. Khi thợ giao, ba nhà đếm đủ tiền; các khe còn phải chờ và thử nước theo lượt, không lấy việc đã trả công làm dấu nghiệm thu.
Buổi chiều ấy, Tạ Duy làm hết lượt đo thứ hai ở cối. Hai bản kích thước được chủ cối đối với vị trí thật rồi giữ một bản. Họ chưa đặt lô mới, giá còn phải qua nguồn Nham Khê cho ông duyệt; bốn tấm dưới bể vẫn là đồ mượn, hai đoạn máng vẫn còn chờ đợt sửa đã hẹn.
Khi quay lại giếng, anh thấy Ninh Vũ để chủ nhà thử cửa xả. Nước sạch dùng kiểm khe từ một thùng nhỏ đi ra chỗ hứng, lối uống bên cạnh vẫn khô. Nàng hỏi anh ngày mai có đủ chuyến dự phòng không. Tạ Duy đưa lịch đã hẹn với người chở: ba buổi thử nhỏ, mỗi chuyến bốn vò giá mười đồng, giao tới nhà dùng trước giờ mở.
Anh giữ ba mươi đồng trong phần bốn mươi còn lại để trả đúng ba chuyến, chưa ghi là đã chở. Chủ giếng nhận đứng một lượt, những lượt sau phải hẹn lại người đọc cho đủ. Mỗi lần mở là một việc cùng nhận, không phải cả tuần đứng sẵn vì chiều nay khung gốm đã lắp xong.
Trước khi về, Tạ Duy đặt bản thiết kế và phần giả định vào bìa cạnh cửa, để người giữ chốt lấy được. Ninh Vũ buộc đầu cấp, thử tay lần cuối rồi nhấc ra. Mai nàng có thể đóng mà không cần xin phép anh; còn nếu dấu giếng đổi, tờ có tên Tạ Duy vẫn nằm ở đó để người ta biết phải gọi ai tới trả lời.