Đến lượt cuối ngày hai mươi tám tháng ba, Tạ Duy mới mở hết những bản các nhà giữ trong tuần.
Từ ngày hai mươi mốt, mạ xuống đất lệch lứa làm nhu cầu ở ba cửa thay nhau cao. Cữ vẫn ở mức nhỏ, nhưng trong mỗi vòng, phần bể dự phòng phải đi tới những dải đã được các nhà cùng chọn, rồi được nạp lại bằng khoảng ca họ đã nhận dành. Người giữ khóa đọc lượng trước khi giao, người ở ruộng báo giờ thực tới, dấu giếng đứng cạnh số gàu đã lấy.
Có hôm một người báo bận đột xuất. Hai nhà đổi ca trong chính tuần ấy, giữ nguyên phần nước và tự xác nhận giờ mới, không chuyển khoảng trống sang cho Tạ Duy. Anh có mặt khi họ đối giấy, chỉ hỏi người nhận sau đã nhìn dấu chưa, rồi để họ bàn giao theo phần vừa đồng ý.
Một lượt bể đóng sớm hơn dự kiến vì dưới cuối đã tới mức. Lượt khác nước qua chậm, chủ nhà chọn cứu dải mạ vừa xuống trước, để phần ngoài chờ. Những chỗ ấy còn nguyên trên giấy; qua đủ vòng không có nghĩa ngày nào các ca cũng trùng khít với tờ đầu tiên.
Sáng hôm cuối, người đàn bà nhà giữa dẫn Tạ Duy qua những luống đã nhận. Bà chỉ dấu mạ cũ và giống mới, nói phần nào thôi se mặt sau mỗi lượt chia mỏng, phần nào vẫn phải đứng coi sát. Một góc gieo muộn còn nằm ngoài lượng đã hứa, bà để nó trong yêu cầu bàn sau chứ không tự mở thêm trong đêm.
“Ngày mười hai tháng tư ngươi tới đủ một ngày chứ?” bà hỏi.
“Ta giữ ngày ấy cho ba mảnh trên bờ. Chuyến đi sẽ tính để về kịp.”
Bà gật đầu, nhắc gọi người chỉ ranh trước. Tạ Duy nhìn tờ hẹn bà còn giữ, thấy công việc mùa sau đã có chỗ đứng riêng, không lẫn vào phần tuần này vừa xong. Ba ca đổi công của bà đã làm đủ; ngày khảo là việc anh còn phải trả.
Ở nhà đầu, người chủ đem bản mức thấp ra so, nhận các lượt trong tuần đã tới đủ phần mình ký. Ông vẫn muốn mở khoảnh cao, vẫn giữ tờ khảo bị hủy, nhưng không dùng hai điều ấy viết thành tuần này mương đã lấy mất nước trong lịch. Tạ Duy nhận bản đối chiếu, để yêu cầu mở rộng còn ở phần riêng như hai bên đã nói.
Chủ bờ cuối kiểm lần sau ca cối, kéo ngón tay dọc các giờ nước thực tới. Ông không bị tính khoảng chờ thành phần đã dùng, các lượt thiếu được bù theo lượng chứ không chỉ bằng lời kéo thêm một ít giờ. Đến cuối vòng, ruộng đang nhận của ba cửa đều qua được nhu cầu cao trong mức đã chốt.
Ninh Vũ đứng ở bể cùng người nhận khóa kế. Lòng gốm còn nguyên, chỗ hứng dưới đáy khô, xả đi đường riêng ngoài lối uống. Giếng được đọc sau lượt cuối rồi sau quãng nghỉ, vẫn lấy gàu từ bậc thường dùng. Người các nhà tự múc, không còn phải rời giếng vì một lần nạp bể kéo mức xuống.
Tạ Duy đặt các trang ấy cạnh bản sai cũ. Mương vòng, bể tách nền, ca cối và những người giữ cửa đã đi cùng nhau qua một vòng cần nước thật. Lần này kết quả không nằm trên một chiếc khay, cũng không chỉ ở miệng anh nói đã đủ.
Họ bàn phần dùng đất sau hạn cuối tháng. Chủ giếng nhận giữ bể và lối nước tới hết tháng năm, đúng chỗ và mức đã kiểm, trước hạn trả vật liệu phải ngồi lại. Chủ khoảnh nhận lại dải khảo khi hết tháng ba; phần ruộng nhà bà dùng theo lịch chung. Các nhà giữ cách bầu và bàn giao, mỗi tuần hỏi lại người nhận ca, chỗ thiếu chưa có người thì chưa mở. Ninh Vũ nhờ người sắp giữ khóa đọc lại dấu dừng; quyền đóng vẫn còn ngay cả khi Tạ Duy đã thu đủ bản để viết kết quả.
Buổi chiều, anh tới trả ba mươi đồng ăn ở cho đợt theo dõi, mua thêm mười đồng lương khô cho chuyến đầu tháng tư. Chín mươi đồng sau việc khảo lối hàng còn năm mươi trong túi. Tiền ấy không phải quỹ của mương, cũng chưa có lô gốm nào được chủ cối duyệt giá để anh tính là đã trả.
Chủ cối tới kiểm bốn tấm mượn trước lúc Tạ Duy lên đường. Ông nhìn mép còn nguyên và cữ có thể tháo, nhận vật liệu vẫn trong phần đã hẹn. Hai bản kích thước máng đã đo được đem đối lại, phần nguồn Nham Khê đầu tháng tư phải lo, chuyến còn trong tháng năm chưa thể mất khỏi lịch chỉ vì ở đây vừa có một ngày khá vui.
Tạ Duy xếp bản nguồn vào bìa đi đường, để cạnh hẹn ngày mười hai về khảo ruộng. Anh sẽ nhận giá vật liệu cho chủ cối xem trước khi đặt, lo phần liên hệ, chở và công lắp như đã đổi. Hai đoạn máng vẫn rò theo tuổi của nó, không được xem là đã sửa chỉ bởi anh có đủ giấy cho một chiếc bể khác.
Tối, anh ngồi bên máng quen tập dẫn tức. Chênh của dòng đã dễ giữ trong hơi thở hơn từ những ngày đầu, thân bớt mỏi khi đi hết vài lượt. Đến chỗ chưa từng đo, anh vẫn phải dừng ở điều mình biết. Nhận được một quan hệ ngoài đất không làm những tầng khác tự hiện trong đầu.
Ninh Vũ gọi người nhận ca sáng mai tới lấy bản. Tạ Duy đứng dậy, đưa phần sao cuối rồi thu thước của mình, không lấy chốt theo vào túi. Dưới ba cửa, những người vừa xác nhận đủ vòng còn có thể gọi ngắt, đổi ca hoặc đòi anh sửa lời hứa.
Anh trở về xếp áo và lương khô, chừa bìa trống cho những số sẽ phải đo ở Nham Khê. Sáng mai mương vẫn có lịch và người đứng, còn con đường đưa vật liệu về Bạch Tảo là việc anh cần đi tận nơi để hỏi, thay vì vẽ nó từ chiếc bàn còn đang khô dưới mái nhà Hà Sâm.