Chủ sân phơi bảo Tạ Duy xem việc trước khi bàn tiền.
Sân nằm ngoài nhánh giếng, thuộc một nơi làm gốm nhỏ ở Bạch Tảo. Mỗi lần mưa, nước đọng giữa chỗ phơi khiến người ta phải nhấc những tấm còn mềm đi chỗ khác. Chủ việc cần bản cao độ và đường thoát tới rãnh ngoài, để thợ tự đặt máng; ông không thuê Tạ Duy hứa nung gốm nhanh hơn.
Hai ngày khảo, một trăm tám mươi đồng, có bữa trưa cho người làm trong hai buổi. Tạ Duy nhận rồi mới mang dây tới vào sáng ngày mười bảy. Khi đo, anh phải chờ thợ chuyển hết một dãy phôi mới được đặt chân giữa sân. Nóng ruột bước qua sẽ làm hỏng đồ đang phơi, còn kéo dây vòng ngoài thì mất đúng phần thấp cần tìm.
Anh chọn đo từ hai mép trước, chừa khoảng giữa cho lúc phôi được chuyển vào. Buổi chiều, một vũng nước cũ để lộ chỗ sân lún, lệch với dốc người chủ vẫn tưởng. Tạ Duy đặt thêm điểm ở đó, không sửa thành đường thẳng cho bản giao gọn hơn.
Ngày mười tám, họ cùng đi theo đường thoát dự kiến. Có một đoạn qua chỗ xếp củi, nếu mở rãnh sẽ làm xe vào khó. Chủ việc chỉ lối khác dài hơn, anh đo thêm trước khi kết thúc. Xế chiều, bản hiện trạng được nhận, đủ một trăm tám mươi đồng mới đặt vào tay anh.
Tạ Duy mua hai mươi đồng thức ăn mang về, cất phần còn lại riêng. Anh đã có phí cho mẫu thử, nhưng chiếc bể tách nền cần thứ vật liệu giữ được cả nước lẫn dòng tức, khác lớp đất trám ở mép mương. Anh mang bản đáy tới hỏi người chở gốm từ Nham Khê thường ghé bãi.
Người ấy mở hòm, cho anh nhìn một mảnh gốm chịu dòng có dấu nguồn xưởng. Mặt trong nhẵn, mép ghép được làm để nối thành lòng máng. Hà Sâm từng nhắc loại tương tự trong công trình đội cũ; người bán cũng có phiếu lô, nhưng chỉ lấy hàng nguyên theo chuyến, muốn xem mẫu đem về phải đặt cọc trước.
Giá cả lượng cho bể vượt xa túi tiền Tạ Duy. Còn phải tính chuyến chở, chỗ nhận hàng và người kiểm khi tới nơi. Anh hỏi có mua vài mảnh lẻ trước không, người bán đáp có thể chờ người dùng khác chia lô, chưa hẹn được ngày. Tờ phiếu lô không phải một lời bảo đảm sáng mai sẽ có vật liệu nằm cạnh giếng.
Lúc anh quay về chỗ làm gốm, người thợ đang gọt góc một chiếc khay nước. Ông nghe chuyện muốn thử đáy kín, chỉ những chum dùng trong nhà, bảo đất ở đây cũng giữ được nước nếu phơi và nung đủ. Tạ Duy hỏi đã dùng nó ở máng có linh lưu chưa. Người thợ lắc đầu, chỉ nhận điều mình đã làm.
“Vậy thử mẫu trước,” anh nói. “Ta cần xem cả góc ghép, không chỉ mặt phẳng.”
Họ bàn hai khay nhỏ có thành và góc như phần bể dự định. Người thợ chọn loại đất đang dùng, làm một khay góc vuông, khay kia bo hơn để đối. Giá năm mươi đồng gồm vật liệu, công và mẻ nung chung; nếu mẫu không hợp dòng tức, tiền làm mẫu vẫn đã thành công việc thật.
Tạ Duy trả đủ, lấy giấy hẹn. Người thợ bảo tới ngày hai mươi hai mới giao, phôi phải khô trước khi vào lò. Anh nhìn bản hạn đất tới ngày năm tháng ba, định hỏi có thể rút bớt hai ngày không, rồi thấy một góc khay còn mềm sụp dưới dao gọt. Muốn có mẫu có ích, anh phải để người làm giữ thời gian của việc họ biết.
“Cứ nung theo cách ông sẽ làm cho cả bể,” anh nói. “Đừng làm riêng một mẫu đẹp hơn thứ sau này có thể lấy.”
Người thợ cười, kéo phần góc hỏng vào chậu đất nhào lại. Ông hỏi nếu thử được thì có nhận làm tiếp ở đây không. Tạ Duy đáp sẽ đem kết quả tới cùng xem, chưa hứa lô lớn. Cả hai cùng cần biết loại đất ấy làm được tới đâu trước khi người giữ giếng phải đặt lòng tin vào một lớp đáy mới.
Những ngày chờ phôi, Tạ Duy trở lại giếng đọc mực ở phần tĩnh được phép, rồi dành buổi chiều tập dẫn tức. Có lần cảm giác bên máng giữ được lâu hơn mấy nhịp thở, nhưng tới chỗ đất dưới bể anh vẫn chỉ có thước và giấy. Anh để hai việc ấy tiến theo thời gian riêng, không lấy một lần cảm được dòng để bớt lượt thử vật liệu.
Chủ giếng xem giấy hẹn nung, hỏi anh có định tranh thủ dùng lại bể đất trong lúc chờ không. Tạ Duy chỉ chốt vẫn ở tay ông, nhận phần khoảnh khảo sẽ tiếp tục dừng. Chậm vật liệu là thời gian anh phải chịu, không phải lý do để lấy lại quyền mở vừa giao. Ông gấp giấy trả, bảo khi có mẫu thì đem tới cho cả người dùng giếng xem.
Tới ngày hai mươi hai, hai khay được đưa khỏi lò, nguội hẳn rồi mới giao. Tạ Duy dùng vải bọc từng cái, đánh dấu nguồn đất và ngày nung theo lời người thợ. Năm mươi đồng đã đổi thành hai vật có thể kiểm, trong túi còn một trăm mười đồng cho những bước sau.
Anh mang chúng qua lối giếng, cho chủ đất xem trước khi đặt lên bàn thử khô. Chờ thêm mấy ngày đã làm công việc chậm đi, nhưng nếu loại địa phương dùng được, lần thay một góc bể sau này sẽ không phải đợi một chuyến hàng xa mà cả khe chẳng biết lúc nào tới.