Lâm Kỷ chờ đầu ngọn chỉ chạm nước rồi mới đặt bàn tay lên bệ chốt. Dưới sàn, Tri Vi giơ ngang cánh tay. Người giữ tời ghìm bánh quay; khe cửa dừng lại, để một dải nước bằng nhau suốt từ trên xuống.
Tiếng đồng nổi lên gần như ngay lập tức.
Kỷ nhẩm nhịp rung, không cố đẩy linh lực vào trong. Anh đã thử giữ cần một lần, cổ tay vẫn đau. Muốn nghe khác biệt của vật liệu, anh chỉ cần giữ bàn tay đủ nhẹ để tiếng rung không lẫn với mạch mình.
Một nhịp trầm, rồi một nhịp mảnh hơn.
Anh giơ hai ngón tay. Người ghi số chấm hai dấu cạnh vạch nước trên giấy.
“Thu về.”
Cửa khép. Nước dưới sàn còn sôi một lúc mới trở lại tiếng chảy đều. Tri Vi bước lên, mép giày để lại những vệt ướt trên đá.
“Mực nước không nhảy,” nàng nói. “Dòng ra cũng không đập vào trụ.”
Kỷ chỉ hai dấu trên giấy.
“Ta nghe hai nhịp.”
“Hai lần rung hay hai tiếng khác nhau?”
Câu hỏi làm anh phải nghĩ lại. Lúc đầu anh chỉ muốn chứng minh mình đã không nghe nhầm. Nhưng nếu chỉ có tiếng khác nhau từ hai phần kim loại vốn khác nhau, việc dừng cửa chưa nói được điều gì.
“Tiếng sau khác tiếng đầu. Ta chưa biết nó từ đâu.”
Tri Vi cúi xuống nhìn khe giữa bệ chốt và sàn. Nàng không chạm vào những nét trận khắc bên trong. Kỷ thấy vậy, kéo tấm vải phủ bản ghép sang một bên, để lộ phần cần kiểm bên ngoài.
Họ rà chỗ bắt đinh, chân bệ và nêm chặn. Một người thợ đưa đèn thấp xuống khe. Không có nước rỉ ở chân đồng, nêm không dịch khỏi dấu mực. Người giữ cửa nghe xong liền hỏi có thể cho chạy luồng chưa.
Kỷ kéo đèn lại gần, nhìn bóng nêm trên mặt đá. Một vệt xước cũ chạy dưới chân nó, đã có từ khi tháo bộ chốt trước. Anh lấy móng tay rà qua rồi ghi riêng, tránh để lần đo sau người khác tưởng là vết mới. Vẫn chưa có chỗ nào giải thích được tiếng ấy.
“Thử thêm một lần ở đúng mức này,” Kỷ nói.
“Còn bao lâu nữa?”
Anh không dám hứa hết lần này sẽ xong.
“Một lượt mở, rồi tôi trả tời. Chưa có kết quả thì ghi chưa có.”
Người giữ cửa nhìn trời, cuối cùng bảo mọi người vào vị trí.
Kỷ đổi sang chạm mặt bên của bệ. Người ghi số đổi tờ giấy khô. Tri Vi xuống lại bậc dưới, kiểm sợi chỉ rồi đứng chờ. Trong chốc lát trước khi tời quay, cả sàn yên đến mức anh nghe được nước nhỏ từ vạt áo nàng.
Khe cửa mở dần. Đầu chỉ nổi lên, căng ngang vạch.
Lần này tiếng trầm kéo dài hơn.
Kỷ đợi tiếng thứ hai. Nó đến muộn, mảnh và gắt ở cuối, như một mảnh đồng nhỏ bị ghì giữa hai mặt đá. Anh suýt giơ tay để bảo tăng nước, chỉ thêm một chút thôi, xem nó có lộ rõ hơn không. Nhưng Tri Vi đang giữ cánh tay ngang vạch. Mức đã định chỉ tới đó.
Anh ra hiệu khép.
Người ghi số nhíu mày trước hai hàng dấu.
“Cùng mực thì nhịp phải bằng nhau chứ?”
Kỷ nhận tờ giấy. Dấu hàng đầu nằm gần nhau, hàng sau giãn ra. Trên bản tính anh mang từ Trầm Lô, ở mức nước ấy bệ chốt không được có một nhịp riêng như vậy. Nếu sửa hàng sau sát lại, chỉ lệch một nét bút, cả hai lần đo sẽ dễ giải thích hơn nhiều.
“Giữ nguyên.”
“Có thể tay ngươi chạm khác chỗ.”
“Vậy ghi cả chỗ ta chạm.”
Anh lấy bút khoanh hai vị trí trên hình bệ. Người thợ đứng cạnh đọc theo, rồi cúi xuống kiểm lại dấu mực. Không ai phát hiện được nêm trượt. Kỷ thấy mặt nóng lên. Chính anh đã tính bộ ghép, đã nói có thể nghiệm thu trước trưa. Bây giờ số đo của anh lại là thứ giữ công việc đứng yên.
Tri Vi nhận tờ giấy khi anh đưa sang. Nàng nhìn hai hàng dấu khá lâu.
“Nếu tai ngươi sai, ta đã giữ thuyền thêm một ngày vì tai ngươi.”
“Ta biết.”
“Còn nếu không sai, chúng ta chưa biết cái gì đang đổi.”
Nàng không nói tiếp. Kỷ chờ một lời buộc tội bên lò, nhưng nàng chỉ xin sao lại hình vạch nước và các dấu. Anh cho nàng chép, giữ phần nét trận dưới mép vải. Hai người chưa có lý do giao toàn bộ nghề của mình cho nhau.
Chiều xuống, người giữ cửa chốt ca thử. Chưa mở luồng cho đoàn chờ. Tri Vi trở xuống bến báo tin; Kỷ ở lại lau khô bệ, tháo sợi chỉ khỏi đường vận hành. Hôm ấy anh không tìm được vết nứt nào để đưa ra làm chứng.
Anh gấp tờ số đo theo chiều tránh hai hàng dấu. Trong túi áo còn bản tính phẳng phiu đã mang xuống núi. Hai tờ giấy đặt cạnh nhau không khớp, nhưng thứ anh vừa nghe không vì thế mà biến mất.
Kỷ tắt đèn, quyết định sáng mai sẽ mang cả hai tới gặp Hà Uẩn.