Nước vừa chạm dấu trên trụ, Lâm Kỷ đã bảo người giữ tời ghìm lại. Anh không nghe bằng tay lần này. Một đầu thước mỏng được luồn dưới chân bệ, còn đầu kia nằm trên đá, ngay cạnh nét mực anh mới vạch.
Thước nhích đi.
Rất ít, chỉ đủ làm nét mực đứt thành hai đoạn. Khi cửa khép, nó trở về gần chỗ cũ. Kỷ ngồi xuống nhìn, mặc tiếng nước còn sôi dưới sàn. Sau hai ngày tìm một vết hỏng có thể chỉ ra, cuối cùng anh đã có thứ không chỉ nằm trong tai mình.
Tri Vi bước tới bên anh.
“Bệ dịch?”
“Hoặc chân thước bị kéo. Phải đổi phía kê.”
Anh lấy thước ra, kiểm đầu cạnh. Không có vết cong mới. Một người thợ giữ đèn cho anh nhìn hết mặt tiếp xúc. Anh thấy một dải mờ ở chân bệ, trước vẫn tưởng là dấu đánh bóng sau khi lắp. Giờ đặt thước ngang qua, nó lại nằm đúng phía nhích.
Kỷ xin thêm một lượt nước thấp. Người giữ cửa không chịu ngay. Lượt trước đã dùng mất thời gian đội vận hành, trong khi thuyền vẫn không đi được. Anh phải chỉ rõ lần này không đổi tải, chỉ đổi chỗ kê thước và xong là thu. Tri Vi xuống nhìn mốc như cũ, không dùng kiếm đẩy dòng thay họ.
Thước nhích lần nữa, ít hơn nhưng cùng chiều.
Anh khoanh dải mờ trên hình bệ. Chưa đủ để nói nó là nguyên nhân tiếng rung, song phần phải kiểm đã hẹp lại: chân bệ, nêm chặn và chỗ lực truyền sang mặt đá. Không cần tháo cả bộ chốt để dò trong bóng tối.
Đến trưa, đội tời nghỉ. Kỷ ăn bát cơm nguội dưới mái che, mở túi phiến vì nhớ phần chữ nói tới lần thử không đạt. Tri Vi lúc sáng đã ngừng khi ký ức cũ kéo tới. Anh không muốn bắt đầu bằng chuyện đóng van. Chỉ nghĩ đến Đỗ Nghiêm nhìn miệng người khác để đoán lời cũng đủ khiến anh không nuốt nổi miếng cơm.
Anh chọn một lần nối mạch từng làm hỏng ở lò luyện nhỏ.
Đó là phép tập trước khi xuống cửa. Anh đã tưởng giữ thêm một nhịp sẽ nối được dòng khí qua đoạn yếu, rồi lực trượt sang ngón út, làm cả vòng dẫn tắt. Anh nhớ lần ấy vì đã bỏ gần hết buổi để nhặt lại những mẩu dây đồng cháy.
Kỷ đặt ngón tay lên rãnh như hình trên bản sao. Anh gọi lại đúng lúc tưởng mình sắp giữ được dòng khí. Bệ đá dưới người vẫn lạnh, nhưng trong bàn tay bỗng nổi lên cảm giác nóng khô của sợi dẫn cũ.
Anh nín thở theo thói quen lúc đó.
Lực kéo xuống ngón út. Chưa có đau thật, chỉ là nhịp căng quen thuộc mà anh đã quên mất trước khi sai. Ngay khoảnh khắc anh biết dòng khí không đi qua được nữa, cảm giác kết thúc. Bát cơm nằm bên đầu gối, một con kiến đang bò lên miệng bát.
Kỷ thở ra, đưa tay sờ ngón út.
Không nóng. Không cháy. Trên mặt phiến có một đường mờ vừa hiện giữa những rãnh nhỏ, dừng ở mép cong. Anh đổi bàn tay, đường ấy vẫn nằm đó. Khi anh cố nhớ tiếp tới lúc mình thu dọn, phiến không kéo theo cảm giác vừa rồi nữa.
Tri Vi trở lên từ bến khi anh đang bọc lại vật ấy. Anh kể nàng nghe mình đã làm gì, cả việc đã vô thức nín thở.
“Nó cho thấy cách nối đúng?” nàng hỏi.
“Không. Chỉ tới lúc ta biết hỏng.”
“Tay ngươi có bị lại không?”
Anh xòe bàn tay cho nàng xem. Cảm giác vừa rõ đến mức anh đã tưởng dây đồng còn nằm ở đó. Nhưng anh không vì thế hiểu thêm tại sao lực trượt, ngoài những điều mình vốn biết sau buổi tập.
“Ta chưa muốn để người khác chạm vào,” anh nói. “Chưa biết đường này là gì.”
Tri Vi gật đầu, kéo bản sao hướng dẫn ra. Hai người đặt phiến cách xa nhau trên bàn, đọc tiếp phần chữ cạnh hình bàn tay. Không cần thử thêm để biết ngay tất cả; dưới sàn vẫn còn chỗ kê thước phải đối chiếu.
Chiều ấy Kỷ quay lại bệ chốt. Anh đặt tay đúng vị trí lần đầu rồi chuyển sang mép dưới, nhưng không lấy cảm giác nóng trong phiến làm số đo của cửa. Anh đã từng tin bàn tay mình báo đúng và vẫn nối hỏng.
Người thợ hỏi có tháo nêm chưa. Anh lắc đầu, vạch thêm dấu đối diện dải mờ để sáng mai đo độ dịch khi không dùng tay giữ bệ.
Phần đá ở đó còn ướt. Kỷ lấy giẻ lau rồi chờ mới chấm mực, không để một dấu nhòe khiến lần sau lại phải tranh cãi. Người thợ ngồi xuống bên anh, nhìn cho tới khi nét mực khô. Ông đề nghị kê đèn phía ngoài để bóng thước không che đường ghép; Kỷ thử theo, chỗ nhích hiện rõ hơn hẳn.
Trên giấy, vòng khoanh nhỏ chỉ ôm một góc bộ chốt. Kỷ gấp bản vẽ lại, lần đầu sau hai ngày biết buổi thử tiếp cần nhìn vào đâu.