Lâm Kỷ nhìn thấy đường nối lạ khi người thợ tháo tấm che van phụ. Lớp cáu trắng tróc một góc, để lộ mặt đồng sẫm dưới đáy. Phía trên là đồng vàng xỉn, ăn màu giống phần cổ van còn lại.
Anh ngồi xuống, xin người thợ đừng gõ tiếp.
Nhánh chưa mở nước, cơ cấu được giữ yên để kiểm khô theo giấy giao. Anh có thời gian nhìn, không phải thò tay vào một bộ van đang chịu tải. Càng vì thế, anh không muốn bỏ qua đường nối chỉ vì đã mất quá nhiều ngày.
“Đồ vá từ trước,” người thợ nói. “Vẫn dùng được.”
“Ông nhớ vá bằng loại đồng nào không?”
Ông lắc đầu. Tấm van đã nằm ở đó từ trước lượt việc của ông. Kỷ đưa đèn sát hơn, nhìn đường ghép lẫn trong cặn. Vết vá khéo, mép ngoài nhẵn. Nếu không có một góc cáu tróc, anh có thể đã vẽ cả tấm thành cùng một loại vật liệu.
Kỷ dùng đầu gỗ gõ rất nhẹ vào hai phía, tránh làm rộng vết sứt. Tiếng bên vàng ngắn, bên sẫm đục hơn. Anh đổi điểm gõ, giữ lực gần như cũ. Chênh lệch vẫn nghe thấy, nhưng nó chưa cho biết hợp kim nào hay phần nối chịu được bao nhiêu.
Anh nhớ lõi vỡ nằm trên bàn. Lần này một tiếng khác không được phép biến ngay thành lời giải.
Tri Vi bước tới theo lối đã dọn. Nàng nhìn tấm che nằm trên sàn, hỏi còn bao lâu để tập tín hiệu nước thấp. Người giữ cửa đã cho đội một lượt kiểm vào ngày mai; hôm nay họ phải xác nhận phần cơ khí có thể dùng.
Kỷ chỉ đường nối.
“Ta đã tính van như đồng cùng tính. Chỗ này không phải.”
Nàng cúi nhìn nhưng không chạm.
“Nếu thay?”
“Chưa có van mới. Không lấy lõi dẫn tải để vá nó được.”
Trong hòm còn đúng hai lõi, một chiếc đã chọn cho bộ nhánh. Dùng chúng làm miếng vá vừa sai vật liệu, vừa khiến phép thử thiếu phần đã đăng ký. Van cố định cũng không phải kho đồng để anh tháo lấy rồi gọi là tiết kiệm.
Anh lấy giấy, chép lại mép vá và vị trí các vít. Người thợ giữ thước để anh đo phần nhìn được, không cạo sạch toàn bộ cặn chỉ để tìm một đường đẹp hơn. Còn chỗ nằm dưới cổ van, anh khoanh là chưa kiểm được.
“Có phải vì nó mà cửa chính rung?” Tri Vi hỏi.
Kỷ ngẩng lên. Khoảng cách giữa hai thứ gần đến mức anh muốn nối chúng trên giấy. Nhưng nhánh phụ này không phải chính bộ chốt anh đã đo; chỉ cùng nằm trong đường nước của cửa.
“Ta chưa biết. Bây giờ chỉ biết không được dùng thông số đồng mới cho cả tấm.”
Anh mang bản ghi tới người giữ cửa, xin hạ mức thử nhánh và kiểm thêm đường đóng. Ông nhìn giấy rồi nhìn trời, vẻ mặt rõ ràng không vui. Lượt nước đâu phải muốn đổi là đổi, người thợ cũng không chờ mãi một thứ cứ nảy thêm chỗ chưa biết.
Kỷ không xin vật tư mới thay tất cả. Anh chỉ rõ phần có thể kiểm khô ngay: van phải về được vị trí đóng, không kẹt ở đường ghép, có thể thu tải trước ngưỡng đã định. Nếu phần ấy không qua, lượt ngày mai hoãn, không đưa mẻ thử vào.
Người giữ cửa cùng họ quay lại nhánh. Ông tự đứng nhìn lúc đội thợ cho van đi hết hành trình không nước. Kỷ theo dõi mép vá, không nghe tiếng cạ mới; song khi van gần đóng, một vệt cặn mắc ở khe khiến nó dừng sớm.
Họ thu cơ cấu, lấy phần cặn rời ra theo cách người thợ chỉ. Không mài đường ghép, không gõ vào mặt đang ép. Lần thử lại, van về đủ dấu. Kỷ vẫn ghi cả lần mắc đầu, không coi có thể dọn sạch một mẩu cặn nghĩa là các phần chưa nhìn thấy đều tốt.
Chiều xuống, anh đánh dấu cạnh vết vá bằng nét mực dễ thấy khi tháo che, ghi số tương ứng ngoài vỏ. Người tới kiểm sau không cần nghe tai anh mới biết phải nhìn chỗ nào. Trên giấy thử, anh khoanh giới hạn mới thấp hơn, chỉ xin đủ nước giữ một mẻ nhỏ.
Tri Vi đối lại mốc dòng ra theo giới hạn ấy. Người giữ cửa ký xác nhận việc kiểm khô, cho giữ lượt nước nếu sáng mai không có thay đổi mới. Ông không ký van tốt toàn bộ.
Người thợ sẽ nhìn mốc phụ mang bản hình mới tới, hỏi vạch cũ còn dùng không. Tri Vi cùng ông xuống chỉ từng chỗ, gạch rõ giới hạn đã hạ; Kỷ đứng ở đầu van nhìn tín hiệu trả về. Đèn chưa thắp, vậy mà từ góc ấy cánh tay vẫn khuất nửa sau trụ. Họ dịch người quan sát thêm một bước trên sàn cao, thử lại cho tới khi cả người vận hành lẫn Kỷ đều nhìn thấy.
Kỷ lắp tấm che lại với người thợ. Vết vá khuất sau lớp vỏ, nhưng lần này nó đã có chỗ riêng trên bản ghi, cùng một khoảng chưa biết không bị lấp bằng lời đoán.