Lâm Kỷ đem phương án thay ca tới lúc đội vận hành đang đổi người. Anh đứng ngoài đường tời, nhìn người giao ca chỉ lại ba vị trí rồi chờ người tới nhận gật đầu. Trên giấy của anh, việc chuyển chỉ là một vạch ngắn. Ở sàn cửa, người vừa xong phải ở lại thêm cho tới khi tay người mới đặt đúng chỗ.
Nếu thiếu một người, vạch ấy kéo dài.
Anh không xin mở nước thử. Hôm nay chỉ nhìn lượt vận hành thường trong phạm vi cũ và hỏi giờ cần cho bàn giao. Đội trưởng cho anh đứng xem sau khi biết anh không định chen bộ dẫn vào cơ cấu đang dùng.
Tới lúc về bàn, Kỷ sửa thời gian chuyển, chừa hẳn một khoảng không tính cho lò hay thuyền. Phần còn lại đủ để đưa một đề nghị đơn giản: Trầm Lô bỏ một giờ thuận đầu mẻ, bến bỏ một giờ thuận cuối chuyến, đổi lại có khoảng cấp nước tách rõ hơn ở giữa.
Anh mong hai khoản mất viết ngang nhau sẽ giúp người nghe chịu ngồi tiếp.
Hà Uẩn nhìn cột lò trước.
“Một giờ này đang nằm ở phần không thể để nhiệt rút chậm. Con bỏ nó thì phải dời lúc mở mẻ, không phải chỉ cắt khỏi lúc nguội.”
Kỷ kéo hình tới gần. Anh đã tính tổng lượng nước, chưa đặt cả nhịp chuẩn bị của thợ trước đó vào. Nếu dời, người đến từ canh sớm có thể phải chờ thêm, vật liệu vào lò cũng đổi giờ. Anh ghi câu hỏi, không xóa giờ mất đi để phương án trông còn cân.
Người quản mẻ không đồng ý. Ông nói thợ đã quen một giờ, hàng giao cũng theo giờ ấy; cứ mỗi lần bến muốn thuận là lò phải tự tìm cách xếp lại. Kỷ hỏi có mẻ nào dời được mà ít thiệt hơn. Ông chỉ một hàng nhỏ, rồi nhắc số ấy không đủ đại diện cả môn.
Buổi trưa Kỷ đưa cùng tờ giấy xuống bến, để nguyên những dấu phản đối phía lò. Tri Vi ngồi ở đầu ván, nghe anh giải thích một giờ bến phải bỏ.
“Đó là giờ còn sáng cho chiếc cuối,” nàng nói. “Cắt đi thì hoặc bớt hàng, hoặc bớt chuyến, hoặc họ phải đi tối.”
“Nếu đưa chiếc nặng lên trước?”
Nàng gọi một người chèo lại, hỏi đúng loại thuyền anh đang tính. Ông nhìn lịch, bảo chiếc nặng cần chờ một chủ hàng khác giao phần cuối. Muốn đi sớm phải đổi cả cách gom hàng. Ông không phản đối mọi thay đổi, chỉ không muốn người ta viết chiếc nặng như một vật có thể nhấc sang hàng đầu bất cứ lúc nào.
Kỷ sửa thêm một dấu. Một giờ ở đầu mẻ và một giờ ở cuối chuyến không giống hai đồng tiền có thể đặt lên bàn rồi đổi tay.
Tri Vi không trả giấy lại ngay. Nàng hỏi khoảng giữa được thêm có thật dùng hết không, hay cuối cùng lại mất cho bàn giao. Kỷ cho nàng xem thời gian đã đứng nhìn ở cửa. Nàng nhìn cột ấy rồi đề nghị cùng lên hỏi người trực đêm, vì ca sáng không phải ca nào cũng đủ người nhận như nhau.
Họ lên trạm khi người trực đang kiểm đèn. Người ấy kéo sổ ca ra, chỉ những hôm phải đổi chỗ vì thợ nghỉ. Kỷ nhận ra mình đã xem một lần đủ người rồi đem nó vẽ thành điều kiện mọi ngày. Anh hỏi nếu xếp lịch chuẩn bị trước có giảm chậm được không. Ông nói có thể, nhưng phải trả đủ người cho ca ấy; không có ai từ tờ lịch bước ra cầm tời thêm.
Họ chỉ đối sổ và tập đọc dấu trên sàn khô, không cho cửa chạy một ca ngoài giấy phép. Người trực nhìn hai hình, chỉ chỗ cờ của bến có thể bị tấm che mẻ chắn từ phía lò. Tri Vi vạch vị trí khác để lần xin thử chính thức còn đưa vào.
Chiều, Kỷ trở lại chỗ người quản mẻ. Ông nghe phần bến cũng mất một giờ, vẫn không chịu bảo thợ dời trước khi có số mẻ sẽ hỏng và phần công chờ. Kỷ đã chuẩn bị một câu về hai bên cùng nhường, tới miệng lại thấy nó không trả lời được câu vừa hỏi.
Anh cất câu ấy, xin mang sổ mẻ về đối thực.
Hà Uẩn ở cạnh, không giúp anh ép người quản mẻ chấp nhận chỉ vì đây là phương án đệ tử mình. Ông bảo đề nghị muốn đem ra ngoài trước hết phải đứng được trước người trong môn, chứ không đem sự phản đối của họ về gọi là cố chấp.
Tối, Tri Vi đưa trả tờ lịch có thêm dấu người chèo. Nàng nói sẽ đo những lượt cuối thật, kể cả hôm báo đủ chuyến. Kỷ hẹn xem phần mẻ ở thượng lưu. Phương án thay ca chưa có ai ký nhận chạy, cả hai giờ thuận vẫn nằm trong tranh chấp.
Anh treo giấy lên cạnh cửa phòng để sáng mai mang theo. Trên đó, khoảng bàn giao mới dài hơn lúc đầu, hai cột thiệt đã có người chịu tên. Kỷ lấy túi gạo cho đường núi ra kiểm, rồi đi mượn bản kê mẻ cần xem trước khi trạm đóng kho.