Đầu tháng thứ ba, Lâm Kỷ về tới Trầm Lô sau hai ngày đường từ bến. Anh cất giấy sửa cùng Tri Vi vào tập số tự đo, rồi lấy bản mẫu Hà Uẩn từng chỉ ra đặt cạnh. Một tờ có những khoảng nghỉ và dấu chao chật mép, tờ kia gọn đến mức mắt cứ muốn đi theo đường liền.
Kỷ đã tập theo đường ấy từ lúc còn chưa nghe rõ tiếng đồng chịu tải. Thầy giữ được lực đều và lâu, phần chuyển hầu như không lộ. Nếu anh làm giống, người xem sẽ biết ngay mình học từ đâu.
Anh dựng lại mẫu trên giá ngoài lò, chưa nối mạch. Một đoạn vòng dẫn đi sát chân đế, chỗ tốt nhất để dòng lực bớt thất thoát lại là chỗ tai anh khó tách tiếng rung nhất. Khi thêm lớp kê để nghe rõ, nhịp nhiệt thay đổi, mẫu cũng không còn đúng như bản gốc.
Lần trước anh đã cố bù bằng cách ép tay giữ. Lần này anh đặt bút ngay bên phần khó nghe.
Hà Uẩn tới, thấy anh chưa vào ca thì hỏi đợi gì.
“Con muốn đổi đường này ra ngoài.”
“Vòng dài hơn thì mất lực.”
“Con biết. Nhưng con nghe được chỗ chuyển, không phải đợi nó tới bàn tay mới đoán.”
Thầy xem dấu anh khoanh, bảo thử trên giấy trước: dài thêm bao nhiêu, chỗ nào giữ được, chỗ nào mất. Kỷ không đáp bằng câu hợp với con rồi thôi. Anh ngồi tính lại, tới giữa buổi mới có một khoảng tải thấp có thể xin kiểm, thấp hơn dự tính anh từng ghi lúc đăng ký.
Mẫu mới dùng lại bộ dẫn đã có, chỉ đổi cách kê và đường vòng cho phép tháo. Anh không đục lõi tốt thành một hình thử không trả lại được. Trước giờ lò, anh đi kiểm điểm không, đặt mốc ngoài đúng chỗ nhìn rồi mới nối dòng nhẹ.
Tiếng đồng lần này tách rõ hơn. Một nhịp ở đoạn giữ, nhịp thứ hai nổi lên khi lực đi vào đường chuyển. Anh không hiểu tiếng ấy như mệnh lệnh chắc chắn; anh nhìn mốc cùng lúc, xem chỗ tai báo với chỗ vạch bắt đầu chao cách nhau thế nào.
Mốc hạ hơi sớm. Kỷ thu, ghi thời điểm rồi chỉnh đoạn nghỉ ngắn hơn một chút. Lượt sau, tiếng rung và mốc vẫn không trùng tuyệt đối, nhưng anh đã biết phải quan sát đoạn nào trước khi dùng tay bù.
Người cùng luyện từng rủ anh chạy thử ghé lại. Nhìn đường vòng nằm thô bên đế, người ấy bảo cứ như mắc tạm để sửa đồ khách, không giống mẫu dự xét.
“Cứ giữ nguyên đường ấy có phải gọn hơn không? Sao ngươi lại bẻ nó ra?”
Kỷ nhìn bản thầy trên bàn. Anh có thể giữ hình đẹp, giấu phần kê khác dưới tấm vải, rồi tới lúc ai hỏi mới giải thích mình có sửa đôi chút. Cách đó sẽ cho anh cảm giác vẫn đứng cùng hàng với những người học đúng mẫu.
“Vì ta không giữ được đường ấy,” anh đáp. “Đường này thì kiểm được.”
Người kia nhún vai, không tranh nữa. Kỷ vẫn thấy ngượng khi thu tấm vải che để kiểm đầu kê. Những nét trên giấy không tự đẹp lên vì anh dám nhận yếu. Anh phải làm cho chúng chạy đủ ổn để lời vừa nói có giá trị.
Cuối ca, hai lượt cùng tải cho kết quả gần nhau. Anh ghi cả mức thấp và thời gian ngắn, đợi lõi nguội mới kiểm bề mặt. Không có vết nứt, dải cũng không co mép. Bộ dẫn không mạnh hơn do được thay hình, chỉ cho anh một chỗ nhìn và nghe hợp với cách mình làm.
Kỷ nhờ người cùng luyện đọc thử hình khi bộ đã tháo. Người ấy tưởng đường vòng ngoài là chỗ đưa thêm lực, chỉ vào đúng đoạn anh cần giữ nhẹ. Anh lấy bút đổi nét, ghi dấu thu ngay bên cạnh thay vì chỉ dựa vào chiều mũi tên. Một mẫu của riêng mình vẫn phải được vẽ cho người khác hiểu. Để nguyên rồi bảo ai nghe quen sẽ biết thì bản ghép không ra khỏi được đôi tay đang cầm nó.
Hà Uẩn xem bản cuối dưới đèn, hỏi khi không nghe được tiếng vì xung quanh ồn thì sao.
Kỷ im một lúc. Trạm cửa không bao giờ yên như giờ lò cuối. Nếu mẫu mới lại bắt mọi người im đi để một mình anh nghe, nó không khác một loại lệ thuộc mới.
“Vẫn phải có mốc,” anh nói. “Tai giúp con biết lúc nào nhìn kỹ. Không nghe được thì dùng mức thấp hơn, hoặc thu.”
Thầy chỉ khoảng chưa có người khác thử, bảo ghi ra, đừng để tới khi cần giao mới thú nhận. Ông không khen mẫu hơn của mình, cũng không bắt anh vẽ lại cho giống. Điều ông hỏi khiến Kỷ phải thêm một điều kiện dùng, thay vì được yên lòng rằng cứ hợp bản thân là đủ.
Đêm ấy anh đặt bản mẫu thầy vào tập riêng, không xóa hay vứt. Nó vẫn tốt trong tay người giữ được, và có những phần anh chưa hiểu hết. Nhưng tờ sẽ đem tới bài thử của mình phải là tờ có đường vòng vụng về ngoài đế, với các giới hạn đã đo.
Kỷ lấy một tờ sạch chép lại từng nét, chừa chỗ cho người khác nhìn mốc. Bàn tay anh đi chậm ở đoạn chuyển, lần đầu không cố nắn nó giống nét của Hà Uẩn. Tiếng nước ngoài sân lò vẫn đều, còn đường trên giấy cuối cùng đã chỉ đúng phần anh có thể tự chịu trách nhiệm.