Tạ Tri Vi ở lại bến tới sau lúc người ghi chuyến đã định đóng sổ. Hàng cuối trên giấy vừa được đánh dấu đủ lượt, nhưng chiếc thuyền tương ứng còn neo bên ngoài, chờ kiện hàng từ đường đất đưa xuống.
“Dấu này tính lúc rời bến hay lúc qua đoạn cửa?” nàng hỏi.
Người ghi chuyến nhìn tờ kê, bảo chủ hàng đã nhận đủ, thuyền chắc chắn đi hôm nay nên ghi luôn. Nếu chờ người chèo về xác nhận, mai lại phải mở dòng cũ ra sửa. Trước đây họ vẫn làm vậy, số hàng không thiếu.
Tri Vi không cãi chuyện số hàng. Nàng kéo ghế tới đầu ván, chờ xem chữ hôm nay kéo dài tới lúc nào.
Mặt trời xuống sau sườn núi khi kiện cuối tới. Người chèo nhận hàng, buộc lại dây, một người ra quán xin thêm cơm gói. Họ đi tuyến đang được phép trong giới hạn hiện có, nhưng lượt muộn khiến khúc bến hẹp phía sau không còn đủ sáng nhìn mốc đá.
Chủ hàng hỏi nàng đứng đây có định giữ thuyền lại không. Nàng nói đang kiểm giờ thật cho phương án lịch mới, chưa có lệnh dừng chuyến này. Nàng muốn nghe từng người tính phần đi tối thế nào.
Người chèo chính chỉ ngọn đèn buộc trên mũi. Đèn đủ soi dây và mạn, không đủ nhìn một cọc chìm trước khi thuyền tới. Ông thuộc khúc nước nên vẫn đi được, nhưng phải chậm, đôi khi dừng sát bờ đợi thuyền ngược qua.
“Chậm thì chuyến về?”
“Sáng mai. Đêm nay ở bến dưới.”
Trong sổ lịch trước mặt nàng, chuyến ấy chỉ chiếm một khoảng như chuyến sáng. Không có bữa ngủ lại, phần cơm thêm hay đoạn đi chậm. Tri Vi ghi giờ rời thật, hỏi ai trả phần ấy. Chủ hàng nói đã tính trong công chuyến. Người chèo không phản bác, chỉ bảo công chuyến không tăng theo mỗi lần phải đợi.
Nàng xin họ cho ghi riêng lời ấy, không đặt tên ai làm người tố cáo. Ông đồng ý ghi số cơm và chỗ neo, còn chuyện đã từng sợ thế nào thì không muốn kể trước chủ hàng. Tri Vi không ép, chuyển sang hỏi phần có thể đối bằng việc.
Chiếc thuyền rời đi trong màu nước sẫm dần. Nàng đứng nhìn đến khi đèn khuất qua khúc ngoặt, rồi quay lại bàn người ghi chuyến. Dấu đủ vẫn ở đó, tròn và ngay như các dấu buổi sáng.
Trước khi ngồi, Tri Vi ra mép bờ nhìn lại cọc đá nàng thấy rất rõ ban chiều. Bây giờ chỉ đầu cọc còn bắt một vệt sáng, mặt nước che hết phần dưới. Nàng đứng trên bờ yên còn phải nghiêng người tìm; người trên mạn đang chao sẽ phải dựa nhiều vào chỗ mình nhớ. Nàng không biết đêm ấy họ gặp thêm gì sau khúc ngoặt, nên chỉ ghi đúng phần đã nhìn từ bến, để câu hỏi cho lúc người chèo trở về.
Sáng sau nàng gặp một người chèo không nhận lượt đêm hôm trước. Ông ở nhà vì phải về đón con, mất phần công chuyến muộn. Trên giấy báo đủ lượt, sự từ chối ấy không xuất hiện; người khác đã thay vào nên sổ chỉ thấy việc vẫn chạy.
Tri Vi hỏi nếu lịch bớt một giờ cuối ngày thì ông chọn gì. Ông nói có thể gom chuyến sớm hơn, nhưng hàng phải tới trước; nếu hàng cứ xuống muộn như cũ, người chèo không tự đổi được giờ. Bớt một giờ mà không đổi đầu giao hàng là bỏ việc trên tay họ.
Nàng cùng ông đi dọc bến, chỉ từng chỗ thuyền đợi, chỗ hàng xuống và lối người khiêng quay về. Một xe tới chậm chắn mất đầu ván, ba người đứng chờ dỡ. Chừng ấy phút không thuộc nước lò hay nhịp kiếm, nhưng cuối ngày lại dồn hết vào khoảng đi trong tối.
Tới lượt thuyền hôm sau, Tri Vi ghi cả giờ hàng đủ, giờ buộc xong, giờ thực rời. Nàng không sửa mỗi con số cho xấu hơn để bác phương án Kỷ. Có chiếc chuẩn bị nhanh hơn lịch ghi, có chiếc mất gần hết khoảng thuận vì chờ một chủ hàng. Cả hai đều phải ở lại trên giấy.
Đại diện bến tới xem, muốn nàng chỉ giữ dòng tổng để đem bàn. Dòng ấy dễ nói hơn, cũng giúp bến đòi đủ giờ nước. Nàng đưa thêm cột chuyến phải đi tối và phần chi chưa được tính; nếu chỉ giơ tổng đẹp, người ta sẽ bảo bến đang có đủ năng suất, mất một giờ vẫn xoay được như cũ.
Ông đọc rồi bảo chủ hàng không thích phần trách giờ giao. Nàng nhận việc giải thích bằng ghi chép, không gạch đi vì khó nói. Khi ông rời, nàng còn ngồi cùng người ghi chuyến sửa cách đánh dấu: đã nhận hàng khác với đã rời, qua đoạn hạn chế phải có giờ về báo.
Không ai tuyên bố cả bến phải đổi sổ theo nàng ngay. Người ghi chuyến chỉ đồng ý thử ghi hai cột cho những lượt nàng đang đối, vì chính ông cũng không muốn một dấu đánh sớm thành lời bảo đảm thuyền đã đi yên.
Tối thứ hai, chiếc thuyền hôm trước mới báo đã về. Tri Vi nối giờ vào dòng cũ, thêm chỗ neo và tiền cơm họ thực trả. Dưới dấu chuyến cuối, khoảng trắng cuối cùng có người và đêm ở trong đó.
Nàng hong trang giấy trước khi gấp, chép một bản để gửi tới Kỷ theo chuyến người lên núi. Trên đầu nàng ghi rõ số ngày đã nhìn, phần chưa kịp đối, và câu hỏi về giờ hàng tới. Ngoài bến, người chèo vừa đặt mái lên giá, đi tìm quán còn bếp lửa.