Đầu tháng thứ năm, Lâm Kỷ tới gian bàn lịch nước trước giờ hẹn. Hai cột tên đã được người giữ cửa kẻ trên giấy: phần luyện lò và phần thuyền. Anh đặt sổ mẻ dưới cột thứ nhất, nhìn chỗ còn trống bên kia rồi kéo ghế vào.
Tri Vi tới sau cùng đại diện bến. Nàng mang sổ chuyến, có cả những trang giấy người chèo tự đánh dấu. Hai người chào nhau như thường, nhưng không đặt chung những tờ giấy ấy thành một tập.
Người của Trầm Lô muốn giữ khoảng nước đầu ngày cho mẻ đang nguội. Đại diện bến cũng xin chính khoảng ấy để thuyền nặng đi khi còn đủ sáng. Mốc nước dưới cửa không đổi vì mỗi bên đều có lý do cần nó.
Kỷ mở sổ, trình lượng nước đã dùng trong lượt nhánh nhỏ. Anh nhắc ngay đó chưa phải mức cho cả lò hay cửa chính. Một người bên mình hỏi vậy đem kết quả ấy tới có ích gì. Anh đáp nó cho biết phần kiểm được, còn muốn mở rộng phải có ca thử và số riêng.
Hà Uẩn ngồi ở đầu bàn phía Trầm Lô, chỉ hàng mẻ sắp tới. Bỏ nước giữa lượt làm nguội có thể khiến lớp vật liệu trong ngoài khác tính, đồ nhìn còn nguyên mà giao đi lại hỏng. Ông không muốn chỉ tính số thuyền đứng nhìn được ngoài bến rồi coi mẻ lò khuất sau núi là không mất gì.
Tri Vi nghe hết, mới mở sổ chuyến.
“Nếu giữ tới lúc mẻ xong, thuyền cuối phải đi muộn. Không phải chiếc nào cũng nhẹ để qua cùng một mức.”
Kỷ nhìn các dấu nàng đánh. Những người chèo có thể đứng chờ dễ đếm hơn phần nhiệt đang rút trong một mẻ, nhưng số người ấy cũng không tự về được nhà trước tối nếu lịch chỉ nhìn tới lò.
Anh hỏi mức chậm bao nhiêu còn chịu được. Tri Vi trả lời cần đối từng loại thuyền, không nhận một khoảng chung cho tất cả. Đại diện bến muốn nàng nói con số ngay; nàng vẫn giữ câu phải kiểm, không lấy sự thân với anh làm bảo đảm thay cho các chuyến chưa nhìn.
Người giữ cửa đặt tờ lịch cũ xuống giữa bàn. Trên đó có những đoạn mỗi môn được thuận một phía, đội vận hành phải xoay ca để bù. Nếu tiếp tục thêm mũi tên vào cùng tờ ấy, người cuối cùng cầm tời sẽ nhận một lịch không ai tự làm trọn.
Kỷ đứng dậy ra hiên nhìn cửa. Bên dưới, người thợ đang lau dấu mực ở nhánh nhỏ để kẻ lại cùng độ cao. Việc ấy bình thường tới mức nếu chỉ ở trong phòng tranh giờ, anh dễ quên có người phải cầm dụng cụ chờ từng câu quyết định.
Tri Vi ra đứng cách anh một đoạn, không hỏi anh định giúp bến được gì.
“Ngươi cần biết số mẻ nào có thể dời?” nàng hỏi.
“Ừ. Cả số mẻ hỏng nếu dời sai. Ta chưa có đủ.”
“Ta cũng phải xem lượt cuối đi lúc nào, không chỉ nghe họ báo đã đủ chuyến.”
Kỷ gật đầu, rồi hỏi nàng có chấp nhận kiểm phương án đổi ca không. Nàng bảo phải thấy phần mỗi bên mất, không hứa sẽ nói người bến chịu vì anh đề nghị. Anh thấy hơi khó chịu trong một thoáng, như thể sau bao lần cùng đứng trước mốc, câu trả lời nên mềm hơn. Nhưng mềm hơn chưa chắc giúp người đang giữ sổ bên nàng.
Trở vào, họ được yêu cầu ghi người chịu trách nhiệm trình phương án. Hà Uẩn nhìn Kỷ, đại diện bến nhìn Tri Vi. Họ nhận phần đo và đề xuất thuộc công việc mình hiểu, phải mang về cho môn và người bến xem.
Kỷ ký tên dưới cột luyện lò. Tri Vi ký cột thuyền.
Một người hỏi hai người từng cộng tác thì có thể làm chung bản để khỏi cãi không. Kỷ nhìn sang nàng rồi trả lời cùng đo được, nhưng số mẻ và số chuyến phải giữ nguồn riêng. Ghép hai cột thành một không làm phần thiệt ít đi.
Buổi bàn kết thúc mà chưa có lịch mới. Trước mắt mỗi bên giữ công việc trong giới hạn đang có, chưa ai được tự mở thêm một ca thử ở cửa. Các phương án sẽ phải đưa cả thời gian vận hành và phần người chịu mất lên giấy trước khi xin Hội chấp nhận giờ kiểm chính thức.
Kỷ thu sổ, thấy một mảnh giấy bến kẹp nhầm dưới hình nhánh. Anh đưa sang Tri Vi. Nàng nhận, kiểm góc có dấu người chèo rồi cất đúng tập, động tác gọn như việc thường.
Hà Uẩn gọi anh về nói phần lò nào không được đem đổi. Tri Vi cũng được người bến kéo sang hỏi chuyện lượt thuyền cuối. Hai người tách nhau ở ngay hiên trạm, mỗi người cầm một cuốn sổ dày hơn lúc tới.
Kỷ còn nhìn thấy nàng cúi xuống hỏi người chèo về một dấu gạch lạ trước khi quay vào. Anh mở lại cột tên mình, bắt đầu chọn mẻ phải đi xem tận nơi, thay vì viết một giờ nước mà người ở lò chưa hề biết mình sắp mất.