Cuối tháng tư, Tạ Tri Vi xuống chiếc thuyền rỗng đã mượn nhiều lượt ở bến. Nàng kiểm dây, ván và khoảng nước trước khi đặt vật dẫn riêng lên giá. Công đổi giờ thuyền được làm đủ từ buổi trước, chủ thuyền không phải bỏ chuyến nào chỉ để đợi nàng luyện.
Lần này người chèo không báo trước sẽ dịch về phía nào. Họ đã thống nhất phạm vi nghiêng nhỏ, có dây neo và chỗ dừng sát bờ; nàng biết giới hạn, còn nhịp tới phải tự nhìn. Nếu dây chạm dấu ngoài, cả lượt thu, không dùng kiếm ép thuyền ở lại.
Tri Vi hạ mũi kiếm, giữ đoạn nước ngắn trước mạn. Từ buổi bỏ tranh thứ bậc, nàng đã trở lại đây nhiều lần, có ngày chỉ trả được công kiểm dây rồi nghỉ vì người mỏi. Đường kiếm không tự ổn sau một lượt khá; nàng phải sửa cả chân, mắt và phần lực thường bỏ hụt ở sau tay.
Mạn thuyền nghiêng sang trái.
Nàng để đầu gối theo ván, mắt giữ ở điểm bờ xa, kiếm không cứng chống lại cả chiếc thuyền. Đầu vật dẫn lấy đi phần lực thừa trong mức đã chọn, nàng giữ phần còn lại tự đi theo hướng. Nước trước mũi còn thẳng khi người chèo đổi chân.
Rồi tải chuyển ngược.
Tri Vi thu mép ngoài trước, không hất tay bù ngay vào phần vừa nhẹ. Khoảng hụt phía sau từng lộ trong trận luyện vẫn còn có thể tới, nhưng nàng đã tập giữ lại đủ một dòng nhỏ qua đoạn chuyển. Mũi kiếm chao ít, trở về hướng trước khi người chèo cần sửa mái.
“Còn giữ?” ông hỏi.
“Còn trong mức.”
Nàng không kéo dài cho đẹp. Tới thời gian đã hẹn, nàng thu kiếm, ngừng vật dẫn rồi mới đứng thẳng. Thuyền không chạm dấu dây ngoài. Người chèo cười, bảo hôm nay ông không phải đợi nàng lấy lại hướng như những lượt đầu.
Tri Vi ngồi xuống mạn, để hơi thở chậm lại. Không có thêm bậc tu vi nào được gọi tên trong người nàng. Nền Kết Mạch cũ đã làm được một phần việc tốt hơn nhờ những buổi nàng tự tập, không nhờ đổi cảm giác của ai thành sức mình.
Nhiếp Túc đứng trên bậc bến, xem lại dấu mức và thời gian. Ông cho nàng làm thêm một lượt sau khi nghỉ đủ, đổi bên người chèo đứng để kiểm chứ không chỉ nhìn một lần thuận. Kết quả không trùng từng chút, nhưng hướng kiếm giữ được trong cùng giới hạn. Nàng ghi cả độ chao, không viết ổn định tuyệt đối.
Thầy nhận bản ghi, nói phần ấy có thể đem làm căn cứ cho việc dẫn thuyền phù hợp, còn nước cao và đoàn nhiều chiếc phải thử riêng. Tri Vi nghe, thấy vui mà không cần câu khen phải lớn hơn điều mình vừa làm.
Khi thu đồ, nàng được đưa giấy gọi tới Khóa Triều đầu tháng sau. Vấn Triều muốn nàng mang số chuyến và nhu cầu luồng vào buổi chia giờ nước. Nhiếp Túc nhắc người chèo sống bằng chuyến thật, đừng để bảng ghi đẹp khiến họ phải liều đi lúc tối chỉ để đủ số.
Tri Vi nhận giấy, hỏi còn được kiểm phần thất bại của lịch cũ không. Thầy bảo có gì chắc thì mang, thiếu thì ghi thiếu. Ông cần người biết luồng, nhưng cũng cần nàng nhớ mình đang đứng cho ai ở buổi bàn.
Chiều nàng lên trạm, gặp Lâm Kỷ vừa kiểm xong bộ nhánh. Hai ngày đường từ Trầm Lô đã ở phía sau anh; giấy quyền ký nhỏ và giấy bù xong tạm ứng cất trong túi khô. Nàng nhìn anh đi lại, không còn giữ cánh tay như sau lần ngắt, rồi hỏi chuyện bài xét.
Anh kể mốc chao khi người chấm đổi tải, phần phải kéo dài thời gian và người đọc bản không cần anh nói hộ. Nàng kể lượt thuyền nghiêng hai chiều, chưa tới nước cao. Họ có hai thành quả khác nhau để nói bằng lời, không món nào làm phần còn lại khỏi phải tập.
Kỷ hỏi giấy trong tay nàng. Tri Vi giơ lên, thấy tờ gọi của anh nằm cạnh hòm.
“Ngươi mang phần lò?” nàng hỏi.
“Ừ. Số mẻ và lượng nước cần giữ.”
“Ta mang chuyến thuyền.”
Anh nhìn xuống cửa rồi gật. Giữ nước cho một mẻ có thể làm thuyền thiếu luồng; trả nước cho thuyền lại có giờ lò phải bỏ. Mẻ nhỏ đã cứu hôm trước không làm hai nhu cầu ấy thành một.
Trước khi về bến, họ đối đồ cho những lần kiểm sau. Hai lõi tốt, bốn dải rời, đủ hai bộ cùng hai dải dự phòng; bộ theo thân Kỷ và bộ nhánh không đem cộng vào số có thể mang đi. Tri Vi cầm một phiếu nguồn, anh giữ bản đối, chưa ai chia sẵn giờ cửa như thể giấy gọi đã là quyền sử dụng.
Nàng xuống bậc, quay lại thấy Kỷ còn đứng trên sàn nhìn vạch nước. Đầu tháng năm họ sẽ ngồi hai phía, mang theo công của người khác và phần mình đã ký. Tri Vi biết sẽ có lúc không thể gật đầu cho anh chỉ vì đã cùng chờ bên một bộ chốt. Nàng vẫn chào hẹn gặp, lòng vui vì cuối cùng mỗi người đã có điều thực sự làm được để đem tới cuộc bàn khó ấy.