Lâm Kỷ về tới Trầm Lô sau hai ngày đường núi. Chân anh đau ở gót vì quai giày cứng, vai còn vết hòm dụng cụ đè. Hà Uẩn đi trước qua sân nghề, không cho anh vào lò ngay mà bảo cất đồ, ăn rồi tới xem lịch.
Bộ đang lắp nhánh đã bàn giao người giữ cửa cùng hình mốc, không theo anh về núi. Trong hòm chỉ có đồ rời đúng sổ và bộ mới mua bằng công sửa. Anh kiểm lại sau khi đặt xuống, thấy bọc vải không ướt mới yên tâm.
Cuối chiều, anh đứng trước bảng giờ lò trong gian thợ. Những ô tốt nhất đã có tên. Người luyện tải lớn cần giờ nước đều, người nung vật dẫn cần thời gian đủ dài; tờ xin của anh không khiến các công việc ấy tự lùi đi.
Hà Uẩn chỉ hai khoảng còn trống: một đoạn sau khi lò vừa hạ nhiệt, một đoạn cuối ngày khi đội thợ đã thu phần chính. Khoảng đầu ngắn, phải dọn hết trước ca sau. Khoảng cuối rộng hơn nhưng nước thường yếu, khó giữ mức bằng buổi sớm.
“Con chọn cuối ngày,” Kỷ nói.
“Vì sao?”
“Con chưa cần tải cao. Cần đủ lúc đo trước khi nối.”
Thầy nhìn anh, rồi lấy tờ lịch gỗ xuống. Không có vẻ hài lòng rõ rệt để anh biết mình đã đáp đúng hay chưa. Ông chỉ nhắc cuối ngày cũng có người quét lò, không được để họ ngồi chờ anh tập xong.
Kỷ ghi giờ trả bệ sớm hơn một chút. Phần cần lâu hơn phải đem ra bàn nguội, không dựa vào việc cả gian đã nghỉ để chiếm thêm.
Người thợ giữ lịch hỏi phần chuẩn bị có tính trong giờ ấy không. Anh ngập ngừng, rồi xin dựng hình ngoài lò trước, chỉ mang bộ đã kiểm vào khi ca bắt đầu. Ông cho phép để một hòm trên giá cuối gian, dặn không chắn đường người chuyển mẻ. Kỷ ghi cả chỗ cất trên tờ nhận. Khoảng trống vừa xin được nhỏ hơn một chiếc bàn, nhưng ít nhất ngày mai anh không phải dùng nửa giờ lò để tìm từng món trong hòm.
Hà Uẩn dẫn anh đi qua đường cấp nước lò. Ở một chỗ ngoặt, ông vạch ngón tay theo hai nét khắc gần như chồng nhau, hỏi anh khi tải thấp sẽ nghe gì. Kỷ nghiêng người, nghe tiếng vang trong ống, đáp phần rẽ sẽ chậm hơn.
“Chưa chắc. Nước nguội và nước qua lò khác nhau.”
Anh nhìn lại. Chính thầy cũng không lấy một tiếng nghe để đóng kết luận. Ông cho anh xem cách đặt ba mốc nhiệt giản đơn trước khi đọc rung, rồi dừng ở tấm che có khóa.
“Phía trong là thông số mẻ nghề. Con được dùng để tập ở đây, không chép ra ngoài.”
Kỷ không đưa bút lên. Trước kia anh sẽ nhận điều ấy không cần nghĩ: nghề của thầy truyền cho mình, giữ lại là tự nhiên. Bây giờ trong túi anh còn bản đo cùng Tri Vi. Những câu hỏi ở cửa đã nhiều lần dẫn tới thứ mỗi môn không muốn phía kia biết.
“Nếu lỗi cần đối chiếu thì sao?”
“Đem về hỏi ta. Không mang cả bản lò sang Vấn Triều vì một lần người ta nhìn nước giúp con.”
Giọng Hà Uẩn không cao. Ông chỉ vào gian thợ bên ngoài, nơi hai người đang kiểm mẻ trước khi giao. Công của họ, đầu vào mua bằng tiền môn, khách nhận theo quy cách ấy; một bộ thông số lọt ra có thể khiến nơi khác làm hàng bằng thứ họ mất nhiều năm mới giữ ổn.
Kỷ hiểu lý do ấy. Anh từng cần một bản ghép riêng để sống bằng nghề, không thể hễ người khác xin xem là trao hết. Nhưng anh cũng thấy câu trả lời của thầy đặt một cánh cửa trước những việc mình chưa biết sẽ hỏi.
“Phần con tự đo, không chứa thông số mẻ, có được đưa ra không?”
Hà Uẩn yêu cầu ghi rõ nguồn và phạm vi. Mốc đồng thường, thời gian nghỉ, độ lệch ở bộ dẫn do anh tự dựng thì không cấm. Phần cấu hình lò, vật liệu mẻ và nét ghép nghề bên trong phải giữ. Chưa phân được thì hỏi trước, đừng công bố rồi mới xin tha.
Kỷ nhận điều kiện ấy. Anh cần chỗ tập, mà đi nơi khác cũng không có lò trống lẫn người chịu kiểm giúp. Sự đồng ý không làm chỗ khó tương lai biến mất; nó chỉ cho anh biết hôm nay bước tới được đâu.
Tới giờ lò cuối, anh trải hình tự dựng ở bàn ngoài tấm che. Người thợ sắp nghỉ chỉ chỗ đặt thước không bị hơi nước làm cong, rồi bảo anh tự giữ thời gian. Anh không nối tải ngay, dành phần đầu ca xem mốc nào ổn khi nước yếu dần.
Một vạch xuống chậm hơn hai vạch kia. Nếu nhìn mỗi nó, anh sẽ tưởng còn đủ nước đều để tập. Kỷ ghi lại sự khác, đặt giới hạn cho lượt ngày mai thấp hơn dự tính trong tờ đăng ký.
Trước giờ quét lò, anh tháo dụng cụ, lau bệ và đem giấy ra bàn nguội. Người thợ tới không phải gọi anh nhường. Hà Uẩn đi ngang, thấy anh còn ngồi đối số dưới đèn nhưng không hỏi thêm.
Kỷ gấp riêng hai tập: số tự đo và phần chỉ được dùng trong môn. Lần đầu anh có giờ lò của mình, dù phải đợi cả ngày mới tới lượt. Anh muốn dùng được nó đủ lâu để xứng với bài giữ tải đã chọn, và vẫn chưa biết làm thế nào nếu một ngày hai tập giấy buộc phải đặt cạnh nhau trước người ngoài.