Quán nước đầu bến kê ba bàn dưới giàn mướp. Kha chọn bàn sát đường để ai tới cũng nhìn thấy, gọi một ấm dùng chung rồi đợi. Trần Đốc đến sau giờ xe hàng thưa, cùng người em mang thẻ công gói trong khăn. Hai người ngồi đối diện, không đặt khăn xuống bàn ngay.
Kha kể đã hỏi chuyến đò sáng có đi bến kế. Chủ đò nhận người có giấy rời việc và trả đúng tiền, không cần đi lẩn vào ban đêm. Nếu chưa có giấy, ông ta không giấu người trong khoang hàng. Trần Đốc nghe tới đó, nhìn em mình rồi mới mở khăn.
“Chủ kho giữ công, lại bảo tiền ứng chưa xong. Muốn lấy giấy đi phải trả cả khoản họ đang giữ.”
Tờ giấy đầu ghi tiền ứng, tờ sau là bảng lượt bốc đã được ký. Kha kéo chúng lại gần, hỏi có được ghi ra số không. Trần Đốc gật. Hắn không rành toàn bộ cách tính công của kho, nhưng nhìn được một lượt làm đã có dấu và một khoản ứng đã ghi nhận từ trước. Vấn đề là phần công tương ứng chưa hiện ở cột thanh toán.
“Ta muốn đưa cả em đi,” Trần Đốc nói. “Không để nó ở lại chờ họ trả rồi tự tìm đường sau.”
“Tôi chỉ hứa hỏi và tìm chuyến hợp lệ. Nếu giấy ghi khoản thật còn nợ, tôi không xóa được. Nếu huynh muốn đi mà không qua cửa ghi công, tôi cũng không giúp giấu.”
Người em ngẩng lên, hỏi vậy còn nói chuyện làm gì. Trần Đốc đặt tay lên mép khăn, bảo cứ nghe hết. Kha đợi người bán nước đặt chén xuống rồi giải thích hắn muốn lấy bản công có số thực đã làm, đối chiếu với ứng. Khoản nào bù được phải bù, khoản còn lại mới biết cần bao nhiêu.
Hắn chưa nói sẽ trả hết. Trong túi còn tiền, nhưng bỏ ra mà không có giấy xóa ứng, hai người vẫn có thể bị gọi lại nhận nợ như cũ. Trần Đốc nhìn hắn khá lâu, cuối cùng đưa tờ bảng ca đã nhòe một góc ra ngoài cùng.
“Bản thật nằm trong nhà ghi công. Tờ này thiếu lượt cuối, lúc ấy họ bảo chưa chốt số bao. Em ta chép số xe trước khi nộp.”
Người em lấy từ khăn ra một mẩu giấy nhỏ hơn. Trên đó có dãy số xe, giờ vào và người nhận. Kha thấy một mã giống đoạn cuối của dấu bao mình giữ. Hắn không chỉ ngay, đợi Trần Đốc nói đó là lượt đưa hàng từ nhà khai bên cầu đông tới kho trong. Người thợ đã bốc, biết điểm nhận giấy; anh ta chưa từng tới bãi khoáng, không biết hàng được đào ở đâu.
“Tôi cần biết phần ấy,” Kha nói. “Không nhờ huynh bảo hàng là giả.”
“Ta cũng không biết nó giả hay thật.”
Trần Đốc nói nhanh, như sợ lời nhờ có thể đổi thành chuyện khác. Kha đáp mình hiểu, rồi cùng hai người quay về nhà ghi công. Hắn không đi trước làm người đòi nợ hộ. Hai anh em hỏi bản lượt của chính mình, xin đối chiếu; hắn đứng bên để đọc số và làm chứng đã nhận bản nào.
Người giữ sổ không muốn chép, bảo đang giờ đóng. Trần Đốc đặt tờ thiếu lượt ra, nói chỉ xin phần công mình làm, không xin xem cả sổ kho. Người em đọc số xe cuối. Có người bốc hàng khác nghe được, xác nhận hôm ấy hai anh em còn làm sau khi nhóm mình nghỉ. Người giữ sổ lật thêm mấy trang, cuối cùng chép số lượt và ký xác nhận.
Họ không nhận được tiền ngay. Kha giữ tay ngoài quầy, không để một bản chép có dấu khiến mình tưởng mọi việc đã xong. Hắn xin ghi ngày hẹn đối chiếu ứng, nhận câu trả lời ngày kia tới. Chừng ấy đủ để hai anh em có thứ khác ngoài lời nói mang về, nhưng đò sáng mai vẫn chưa đi được.
Ra khỏi nhà, Trần Đốc đưa Kha nhìn mã nhà khai ở cuối bản công. Hắn chép đúng phần ấy rồi trả giấy. Người thợ hỏi vậy đã đủ cho hắn chưa. Kha đáp đủ để tìm đúng nơi hỏi tiếp, chưa đủ kết luận về hàng, càng chưa đủ để hứa hai người sẽ nhận hết công trong ngày.
“Nếu mai họ giữ lại giấy?” người em hỏi.
Kha đề nghị để một bản sao ở chỗ Liễu, nếu họ đồng ý. Trần Đốc nhìn tên chủ thuyền ghi trên giấy hẹn của hắn, gật đầu. Hắn không lấy bản gốc, cùng hai người chép thêm dưới mái quán nước. Mực khô, người em tự gấp vào khăn, giữ cả tờ ứng bên cạnh.
Kha trả chén, đứng dậy trước để hai người về theo lối quen. Trần Đốc gọi hắn lại, nhắc cửa nhà khai mở sớm, phải hỏi người giữ bản chứ đừng chỉ hỏi người bán. Hắn ghi nhớ. Lời nhờ đưa người đi chưa thành chuyến, nhưng giờ đã có tuyến đò, số công và một điểm cần đối chiếu. Hắn có thể làm tiếp từng việc ấy mà không bắt hai anh em nói ra điều họ chưa từng biết.