Liễu đưa Kha tới bến kế vào ngày thứ hai mươi. Hai anh em Trần Đốc ở tạm trong một dãy nhà thuê sau bãi gỗ, đang xin lượt bốc cho chuyến khác. Kha tìm đúng địa chỉ, thấy người em vá lại quai giỏ còn Trần Đốc ngồi đếm thẻ công trắng. Thẻ cũ đã được cất, chưa có dấu lượt mới.
Nghe hắn nhắc chuyện hàng, Trần Đốc nhìn ra cửa trước khi đáp. Anh ta đã nghe kho cũ hỏi ai đem giấy công cho người ngoài xem. Chưa ai đến đây đòi lại tiền ứng đã xóa, nhưng bến mới còn cần hỏi chỗ cũ trước khi nhận người giữ lượt dài. Nếu tên mình gắn với chuyện tố hàng, anh ta sợ chưa kịp đứng việc đã bị đẩy ra.
“Ta không muốn đi làm chứng nữa,” anh ta nói.
Kha nhớ lời hẹn trên cầu lúc thuyền sắp rời. Hắn đã giữ địa chỉ, mang cả phần mẫu cho xem, tưởng tới đây sẽ có thêm người nói trước chủ kho. Bây giờ Trần Đốc ngồi co tay trên đầu gối, nét mặt căng hơn hôm được trả thẻ, hắn thấy mình không thể bắt lời nói vội ở cầu thành một việc người ta phải làm.
“Được. Huynh không phải đứng ra.”
Trần Đốc ngẩng lên, như còn chờ hắn nhắc khoản một viên rưỡi. Kha không lấy biên nhận ấy ra. Hắn bảo giấy xóa ứng đã ký, phần đó không thay vì hôm nay người nhận giúp đổi ý. Liễu ở bên cửa gật, nói sẽ không đưa tên hai người vào lời báo nguy nếu họ chưa đồng ý.
Người em buông quai giỏ. Một lúc sau, Trần Đốc hỏi vậy Kha còn cần gì. Hắn nhìn tờ giấy giờ bốc đang giữ, chọn đúng phần mình có thể hỏi mà không buộc người thợ nói về thứ chưa biết.
“Lượt cùng dấu bao ấy, huynh nhớ ngày và khoảng giờ đưa xuống thuyền không? Chỉ xác nhận phần huynh tự bốc, không cần nhận xét nó hỏng.”
Trần Đốc chậm rãi kể một lượt cuối chiều ngày mười sáu. Hai anh em đã hết ca nhưng còn phải chờ chốt công, nên thấy nhóm sau chuyển hàng xuống chiếc tàu có hai cọc mũi quấn vải đỏ. Anh ta nhớ vì họ phải nhường đòn cho nhóm ấy, tới lúc quay lại nhận đòn thì nhà ghi công đã chuẩn bị đóng.
Kha hỏi có trực tiếp đưa bao xuống không. Trần Đốc lắc đầu: mình chỉ nhìn số xe đi qua, người em còn giữ lượt mượn đòn ghi giờ. Hắn sửa ngay dòng ghi từ “bốc” thành “xe tới bãi chuyển”, không lấy lời nhìn thấy biến thành tận tay nhận hàng.
Người em tìm trong khăn mẩu ghi trả dụng cụ. Kha đối chiếu vạch giờ với lượt xe trên bản công cũ, thấy khớp một phần mã, chưa đủ tên tàu. Hắn xin chép giờ và mô tả hai cọc, trả mẩu gốc. Trần Đốc không ký lời khai, Kha cũng không đặt bút chờ.
Ra khỏi dãy nhà, Liễu hỏi nên quay về kho tìm tiếp không. Hắn chỉ bản giờ, đề nghị xem sổ tàu chờ tuyến ở bến đổi trước. Chuyến có hai cọc đỏ đã nhận hàng nhưng chưa chắc rời hết vùng; giờ đưa xe giúp thu hẹp lượt đăng ký mà không cần lôi người thợ trở lại đứng trước chủ.
Nàng dẫn hắn tới bàn ghi chuyến công khai. Người giữ sổ cho xem phần tàu đợi luồng với điều kiện không chép danh khách. Liễu đưa giấy thuyền mình, hỏi chiếc tàu đã nhận tải cuối ngày mười sáu. Họ phải tìm qua hai trang, vì giờ trong bản công là giờ xe tới, không phải giờ tàu rời bến.
Cuối cùng người giữ sổ chỉ một dòng còn chưa gạch: tàu đang đợi đổi tải ở bến ngoài, chậm vì một nhóm hàng khác chưa tới. Mô tả cọc đúng, số bao trong lượt nhận không trùng toàn bộ lô Kha khảo nhưng có cùng nhà chuyển. Hắn ghi chỗ đang đậu và ngày dự định khởi, không viết rằng đã tìm thấy chiếc tàu gây nạn nào.
Buổi còn lại, họ đi xem phía bến ngoài. Tàu nằm xa, mũi thấp hơn những chiếc bên cạnh, nhưng cũng có thể vì cách xếp hàng. Liễu không đưa thuyền chen qua dãy neo để tới ngay. Nàng hỏi lối tiếp cận và nước mở sáng sau, hẹn tới lúc có thể ghé công khai xem tải.
Kha đứng ở mép cầu, thấy hai dải vải đỏ trên cọc mũi động trong gió. Lần này thứ dẫn hắn tới không phải khoảng hụt trong tai, mà là giờ xe và một lời kể được giữ đúng phạm vi. Hắn chưa biết tàu có cần giúp hay không, chỉ biết nếu cứ quay lại thúc Trần Đốc ký thêm, họ đã không ra tới đây.
Trước khi về thuyền, Kha nhờ người chuyển lời rằng hai anh em không cần chờ mình quay lại lấy chữ ký. Hắn lấy bản giờ ra, cùng Liễu tính đường qua dãy neo ngày mai. Liễu nhắc lại giờ nước mở và lối nàng đã hỏi. Kha ghi bên cạnh chỗ tàu đang đậu để sáng mai khỏi tìm nhầm giữa những chiếc tàu đang đợi đổi tải.